QUÂN PHỤC ĐẠI LỄ CỦA THỦ ĐỨC

QUÂN PHỤC ĐẠI LỄ CỦA THỦ ĐỨC

HỊCH TRUYỀN

HỊCH TRUYỀN

THÁNG TƯ ÔM HẬN

THÁNG TƯ ÔM HẬN
Thơ VŨ UYÊN GIANG - phổ nhạc Lmst

Thursday, September 22, 2011

DINH ĐỘC LẬP, Tiếng súng cuối cùng - Huy Văn



Huy Văn

Tặng các bạn khoá 6/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.


Ba cái ly thủy tinh trong suốt, lưng lửng rượu vang, chạm nhau kêu lách cách, chúc mừng, chúc mừng ngày bọn mình tái ngộ, tôi nhìn qua khung cửa sổ, cảnh ba người đàn ông ngồi bệt dưới đất, bao quanh chai rượu và đĩa mồi, hình ảnh quá quen thuộc. Tôi đoán ngay, ngày xưa họ là lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Như để xác nhận sự suy đoán của tôi là đúng, người trẻ tuổi nhất trong bọn cất giọng :
- Hai ông có công nhận không ? Sư Đoàn 18 của bọn mình, lấy một chọi mười, đã đánh một trận oanh oanh liệt liệt. Tôi cho đó là trận đánh cuối cùng, trận đánh để đời của quân lực Viêt Nam Cộng Hoà.
Người bận chiếc áo jacket đen, tay nâng ly rượu ậm ự :
- Tôi biết chứ, chuyện rõ như ban ngày, mình khen mình thì có khác gì mẹ hát con khen hay. Hãy quên mình, tìm những cái hay, cái đẹp của người khác, chẳng hạn sáng ngày ba mươi tháng tư, khoảng sáu giờ sáng tại ngã tư Bảy Hiền, Biệt Kích 81 vẫn còn chiến đấu, tiêu diệt thêm mấy chiếc T54 của VC. Họ chỉ thực sự buông súng khi nghe lịnh kêu gọi đầu hàng trên đài phát thanh Saigon. Biệt kích 81 bị bức tử và họ đã chết trong hào hùng.
Người già nhất, với gương mặt đầy đặn, phúc hậu, cuốn mình trong chiếc áo nỉ dày cộm, uống thêm một hớp rượu rồi mới bắt đầu lên tiếng:
- Mấy anh bạn à, cũng sáng ngày ba mươi tháng tư, nếu tôi nhớ không lầm thì lực lượng Nhảy Dù đã bắn hạ thêm mấy chiếc T54 tại lăng Cha Cả, trước khi gạt lệ giã từ vũ khí, lột bỏ quân phục để đi vào lịch sử.
Ông ta ngừng nói, lần trong cái bị da nhỏ, lấy ra một ít thuốc rời nhồi vô cái tẩu. Ánh lửa của que diêm bùng sáng trong đêm, soi rõ mái tóc dài lấm tấm bạc. Trông ông ta giống như một nghệ sĩ hơn là lính.
Tôi biết rằng ba người nọ, mỗi người nhìn ngày lịch sử 30 tháng 4 qua góc cạnh của mình. Mỗi người nắm trong tay một mảnh puzzle, vẫn còn hàng trăm, hàng ngàn mảnh như vậy nữa đã thất lạc đâu đó. Nếu như mình có đủ, ráp lại, sẽ có được bức tranh toàn mỹ của ngày 30 tháng 4.
Tôi nghĩ đến mảnh puzzle trong tay của mình : Dinh Độc Lập với những tiếng súng cuối cùng.
*
Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức khi vừa 20 tuổi, ba lô lên vai tôi trình diện đơn vị mới : Tiểu khu Darlac.
Suốt thời gian thụ huấn trong quân trường, tôi chỉ mong cho mau đến ngày mãn khóa để xin đi nhảy dù. Thật lòng mà nói tôi hơi nhát gan, ngại gian khổ và cũng sợ chết thế nhưng bộ đồ rằn ri, thêm cái mũ nồi màu huyết dụ quá sức hấp dẫn đối với tôi. Lòng ham muốn vẻ đẹp bên ngoài đã thắng được con thỏ chết nhát trong tôi. Tôi lén mua sẵn bộ đồ dù, giấu tận đáy túi quân trang chỉ chờ ngày mãn khoá sẽ tình nguyện đi nhảy dù. Bộ đồ như một chứng tích của ước mơ, ước mơ không bao giờ thành sự thật vì khoá của tôi gần hai ngàn sinh viên sĩ quan, nhảy dù chỉ chọn 16 người. Tôi hơi thấp và nhỏ con, đó có thể là lý do tôi không được chọn.
Tôi đến Ban Mê Thuột trong bộ đồ trận của Bộ Binh với chiếc mũ lưỡi trai trên đầu. Ban Mê Thuột, thủ phủ của Cao nguyên, tôi vẫn thường nghe người ta nói với nhau rằng: thành phố gì mà Buồn Muôn Thuở, mùa nắng thì Bụi Mù Trời, mùa mưa thì Bùn Một Tấc.
Sau hơn 4 tuần chờ đợi ở Hội quán Sĩ Quan, tôi nhận được Sự vụ lệnh về Chi khu LOK.
Trung sĩ Bé phòng nhân viên của tiểu khu, đưa sự vụ lệnh cho tôi kèm theo câu nói đầy ái ngại :
- Tôi biết Chuẩn úy chẳng có gốc gác gì trong Quân đội.
- Sao Trung sĩ biết ?
- Chỗ của ông sắp đến là địa ngục trần gian, lưu đày biệt xứ, người có gốc ai mà đến đó.
- Chỗ đó có gì mà ghê vậy ?
- À ... nó là một quận lỵ nhỏ xíu với vài chục gia đình người Kinh, bị cô Lập hoàn toàn, không có đường bộ để vô ra. Con đường duy nhất để đến là trực thăng của cố vấn Mỹ. Nhưng đó không phải là chuyện quan trọng, người ta gọi là đi đày vì ở đó tuần nào cũng lãnh hàng chục trận pháo kích.
- Bộ không có hầm chống pháo kích hay sao ?
- Có chứ, với súng cối tám mươi hai ly thì không sao nhưng với sơn pháo thì thua, trời kêu ai nấy dạ.
- Sơn pháo là súng gì ?
- Tới nơi ông sẽ rõ, mà thôi tôi có chuyện này muốn nói riêng với Chuẩn úy.
- Chuyện gì vậy ?
Trung sĩ Bé kê miệng gần tai của tôi:
- Ông đừng trình diện đơn vị liền, ở Ban Mê Thuột chơi dăm mười ngày rồi đi, xuống điạ ngục thì chẳng có gì phải gấp gáp, không ai nỡ la mắng, ký củ khi Sĩ quan trình diện trễ. Xa mặt trời cũng có cái lợi đó Chuẩn úy.
Ngừng lại một chút như đợi cho tôi hiểu rõ vấn đề, sau đó Trung sĩ Bé thong thả tiếp:
- Ở Tiểu khu này người ta thường nói : “Mặt trời không bao giờ rọi tới LOK”, cứ từ từ mà đi. Chúc Chuẩn úy lên đường bình an.
*
Theo lời dặn của Trung sĩ Bé, tôi lặn một hơi mười ngày, sau đó mới tà tà theo trực thăng của cố vấn Mỹ đến đơn vị.
Trước mặt tôi là Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi đi dọc theo dãy nhà tôn vách ván, phòng nào cũng trống không, tôn lợp mái nhà tấm nào cũng vài chục lỗ thủng do miểng pháo kích. Ánh nắng mặt trời xuyên qua những lỗ thủng, chiếu xuống thành muôn ngàn sợi nắng vàng kẻ song song, khiến tôi hoa cả mắt. Nhìn quanh không một bóng người thêm vào sự im ắng của buổi trưa hè oi bức, khiến tôi có cảm tưởng là mình đang ở trong một vùng đất chết.
Tôi đi hết dãy nhà, vòng sang bên hông, dưới bóng mát của 2 gốc cây rừng một ông Chuẩn úy (100% là huynh trưởng của tôi) mặt mày đen xạm, râu ria xồm xoàm, tóc dài quá mang tai nằm đu đưa trên chiếc võng, tay cầm lon bia Mỹ, dưới đất thêm vài cái lon không nằm lăn lóc.
- Mới ra trường ?
Giọng nói nhừa nhựa đầy men bia, câu hỏi trống không nhưng tôi biết dành cho tôi, vì tôi là người duy nhất đứng trước mặt ông ta.
- Vâng, tôi mới ra trường. Xin hỏi Chuẩn úy, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở đâu ?
- Tôi là Hòa, Chuẩn úy Hòa. Hai giờ chiều rồi ai mà làm việc nữa, ngồi xuống đây làm vài lon, bia Mỹ mà không uống thì phí cả cuộc đời.
- Ở chốn khỉ ho cò gáy này làm sao Chuẩn úy có bia Mỹ để uống ?
- Cái bọn cố vấn Mỹ, khi có việc cần nhờ vả mình thì bọn nó lại vác qua cho vài thùng bia, gọi là có qua có lại ấy mà.
- Thế bọn mình làm gì ở đây ?
- Làm gì thì tôi cũng chả biết, lính thì cũng giống như thiên lôi, cấp trên sai đâu mình đánh đó. Ngày xưa đây là căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt với một tiểu đoàn Biệt Kích Biên Phòng trấn giữ. Khi Mỹ rút, họ bàn giao căn cứ này cho Tiểu khu, thế là Tiểu đoàn mình có công ăn việc làm, nằm cố thủ ở đây đợi pháo kích.
- Cho tôi hỏi ông một câu. Ông để tóc dài như vậy không bị phạt sao ?
- Cái ông này chỉ được cái vớ vẩn, nãy giờ ông hỏi tôi bao nhiêu câu rồi ? Ở đây có tất cả ba sĩ quan người Kinh, mỗi người một đại đội, nay có thêm ông nữa là bốn, chắc ông sẽ về đại đội một. Tất cả Đại đội trưởng của bốn đại đội đều là người Thượng, trong đó có một ông là Fulro đầu thú. Họ chấm tọa độ điểm đứng còn chưa xong, hơi đâu mà lo đến quân phong với quân kỷ.
Ngửa cổ nốc cạn lon bia, Chuẩn úy Hòa nói tiếp :
- Chiều rồi, xuống hầm của tôi kiếm chút cơm dằn bụng, xong đâu đấy tôi còn phải đi lo chuyện phòng thủ ban đêm. Ông nên nhớ núi rừng cao nguyên đêm xuống rất lẹ, chưa kịp làm gì thì trời đã tối thui cho mà xem:
- Hầm ở đâu ?
- Ngay đây thôi, nguyên tắc đầu tiên ở đây là, làm gì thì làm luôn luôn cách miệng hầm không quá mười thước.
- Tại sao vậy ?
- Khi nghe tiếng đạn pháo đầu tiên của địch đề pa, mình chỉ có tối đa năm giây là phải ở dưới hầm, trễ hơn là bể gáo.
Đưa tay chỉ vào cuối hầm Chuẩn úy Hòa nói tiếp :
- Đêm nay ông ngủ tạm nơi chiếc ghế bố đằng kia.
Nhìn vào góc hầm tối thui như cái hũ nút, tôi chợt hiểu, thì ra “ Mặt trời không bao giờ rọi tới LOK” có nghĩa là ở dưới hầm, chỉ có vậy mà Trung sĩ Bé còn bày đặt chơi chữ. Đang mò mẫm đi vào góc hầm thì tiếng của Chuẩn úy Hòa nhắc tôi :
- Nếu có pháo kích thì nón sắt, súng M16 đứng giữ cửa hầm, bất cứ ai chạy trên mặt đất ông cứ bắn thoải mái.
- Làm sao phân biệt được địch và bạn ?
- Lính mình chỉ di chuyển dưới giao thông hào, trên mặt đất là VC. Nói vậy thôi chứ ông đừng lo, đó là trường hợp căn cứ bị tràn ngập.

- Chuẩn úy Trần văn Đạt, số quân .......... trình diện Đại úy.
- Ông mới ra trường mà đã bày đặt ba gai phải không ?Tới đây từ hôm qua sao hôm nay mới trình diện ?
- Thưa Đại úy, hôm qua tôi đi qua văn phòng của Bộ chỉ huy không thấy ai làm việc hết.
- Làm việc ở đó để ăn pháo rồi chết à. Tất cả mọi người ở đây đều ăn, ngủ, làm việc dưới hầm ông hiểu chưa ?
- Thưa Đại úy tôi có gặp Chuẩn úy Hòa, ông ấy bảo để mai hãy trình diện.
Vung tay đập bàn cái rầm, Đại úy gằn giọng :
- Tôi là Tiểu đoàn Trưởng hay Chuẩn úy Hòa là Tiểu đoàn Trưởng ?
- Thưa Đại úy, ông là Tiểu đoàn Trưởng.
- Trung sĩ Kim đâu ? Đưa ông Chuẩn úy này về Đại Đội một, mà thôi chở ông ấy ra tiền đồn luôn.
Quay qua nhìn tôi, Đại úy tiếp :
- Ông ra nằm tiền đồn, một tháng sau tôi sẽ điều ông về Đại Đội. Ông đi ngay lập tức, tôi không muốn thấy mặt ông ở đây.
Theo chân Trung sĩ Kim, tôi rời hầm chỉ huy mà lòng đầy khoan khoái. Tôi cười thầm trong bụng, lặn một hơi mười ngày không mắng một câu, không ký một củ, không la một tiếng. Trong khi chỉ trễ chút xíu thì lại đày đi tiền đồn. Đã xuống địa ngục rồi thì tầng đầu hay tầng cuối cũng là địa ngục mà thôi, đang miên man suy nghĩ ...
- Chuẩn úy à, ông làm thằng em kẹt theo rồi.
- Sao vậy ?
- Từ đây ra tiền đồn, tám cây số đường rừng quanh co khúc khỉu với hàng ngàn cái ổ gà, cái nào cái nấy to như cái thúng, không biết mấy ngày qua VC có chôn mìn không ? Nếu bọn họ gài mìn thì ông và tôi kể như chết chắc.
- Đại úy Châu vừa mới hù tôi xong, bây giờ đến ông phải không ?
- Chuẩn úy mới tới nên không biết đó thôi, trong vòng một năm bốn chiếc xe, vừa GMC, vừa Jeep của Chi khu bị trúng mìn, thêm hai xe đò dân sự với hơn năm mươi thường dân vừa Kinh, vừa Thượng, vừa đàn bà, vừa trẻ em bị chết. Từ đó đến nay xe cộ không được phép di chuyển, mà dù có cho cũng chẳng ai dám đi. Đường bộ từ Ban Mê Thuột vào bị đắp mô, đóng chốt, rồi bỏ phế, mỗi khi cần chuyển quân hoặc tiếp tế, phải hành quân mở đường và dò mìn trước đã.
Tôi quẳng cái ba lô lên xe Dodge 4x4 trèo lên ghế trưởng xa mà lòng đầy ngao ngán, than thầm cho cái số con rệp của mình. Những gì Trung sĩ Bé ở phòng nhân viên tiểu khu nói với tôi hầu như là đúng hết, chỉ thiếu một điều ông ta không nói là : mìn.
Tiếng động cơ nổ giòn, xe lăn bánh chầm chậm ra cổng của căn cứ rồi đột nhiên ngừng lại.
- Chuẩn úy, tôi có chuyện muốn đề nghị với ông.
- Chuyện gì ?
- Tôi nghi quá, linh tính báo cho tôi biết có sự chẳng lành. Không dò mìn mà đi ra tiền đồn thế nào cũng dính mìn, mà mìn chống chiến xa chứ chẳng phải chơi đâu. Xe tăng còn nát bét huống hồ gì cái xe Dodge nhỏ xíu này.
- Làm như có một mình Trung sĩ biết sợ chết, tôi cũng sợ thấy mẹ.
- Hay là để tôi mượn xe Honda chở ông ra tiền đồn, đi xe hai bánh là an toàn trên xa lộ, mình có thể lách được không sợ ổ gà, vì ổ gà chính là chỗ VC chôn mìn.
- Sao mày không nói sớm ? Vì mừng quá tôi kêu trung sĩ Kim bằng mày, quên giữ gìn cách ăn nói lịch sự, xưng hô theo cấp bậc.



T
iền đồn nằm trên đỉnh đồi sót, khá cao với hàng chục lớp kẽm gai bao bọc, một con đường mòn nhỏ cong quẹo, uốn lượn theo sườn đồi dẫn lên đỉnh.
Đón tôi dưới chân đồi là 2 binh sĩ, súng đạn đầy người, họ đứng nghiêm chào tôi rồi nói :
- Bọn em được lịnh xuống đón Chuẩn úy.
Theo chân hai người lính, tôi cứ từ từ vừa đi vừa ngắm cảnh, tiện thể quan sát cách phòng thủ của đồn.Những vỏ lon bia, vỏ lon thịt hộp treo lửng lơ trên những lớp hàng rào kẽm gai chạm vào nhau kêu lẻng kẻng, như nhắc nhở cho tôi biết là mình đang ở trong một tiền đồn nơi biên giới, xa thật là xa, xa lắc xa lơ, xa hẳn xã hội loài người.
Khi lên tới nơi tôi mới giật mình hoảng hốt, mồ hôi ướt như tắm không biết tại leo núi hay vì sợ. Chỉ có 2 binh sĩ đón tôi là người Kinh còn tất cả là người Thượng. Quân trường có bao giờ dạy tôi cách chỉ huy người Thượng đâu. Những binh sĩ này trước kia là Biệt kích Biên phòng, lính không có số quân, lãnh lương của Mỹ. Khi các trại Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, đổi thành Biệt Động Quân Biên phòng, họ đào ngũ gia nhập Địa phương Quân.
Tôi đang đứng ngay trên đỉnh đồi, nhìn quanh một vòng cả một thung lũng bao la bát ngát, xung quanh là núi rừng bao bọc, cây liền cây, núi liền núi, cao ngút từng mây. Bề ngang thung lũng ước chừng 5km, bề dài khoảng 20km khiến tôi nhớ đến kích thước của thung lũng Điện Biên Phủ. Ngày xưa quân đội Pháp phòng thủ Điện Biên Phủ với khoảng vài chục ngàn quân, cọng thêm phi cơ, chiến xa và đại bác, đã bị thất thủ. Giờ đây, tôi phòng thủ cái tiền đồn bé tí ti với độ hơn chục người lính, coi bộ cuộc đời của mình không được khá cho lắm. Tôi đã đi đến tận cùng của trái đất, đã xuống tới tầng chót của điạ ngục, từ đỉnh của tiền đồn quay một vòng 360 độ không một mái nhà, không một bóng người, đây là khu oanh kích tự do.
Tôi tập họp trung đội, trung sĩ nhất Trung đội trưởng báo cáo quân số : chỉ vẻn vẹn 22 người. Nghe cũng an ủi được phần nào, 22 người dù sao cũng nhiều hơn con số mà tôi ước đoán. Súng cộng đồng trong đồn gồm có 2 đại liên M60, 2 súng cối 81 ly, đạn dược đầy đủ nếu không muốn nói là dư thừa. Sau khi tìm hiểu cách bố trí phòng thủ của tiền đồn, tôi kêu mấy tay xạ thủ súng cối, là người Thượng nhưng họ nói và nghe được tiếng Việt tuy không rành lắm.
- Các ông có thấy cây cổ thụ ở ngoài xa, dưới chân đèo hay không ?
- Thấy chớ.
- Điều chỉnh tác xạ, nhắm vào cây cổ thụ bắn cho tôi vài quả.
- Tuân lệnh.
Sau một hồi loay hoay tính toán về khoảng cách, cao độ, thuốc bồi, 4 viên đạn 81 ly thoát ra khỏi nòng súng hướng về phía cây cổ thụ. Tôi đang dùng ống dòm quan sát mục tiêu thì người hạ sĩ truyền tin vác máy PRC25 chạy ào đến đưa ống liên hợp cho tôi:
- Đại úy Tiểu đoàn trưởng trên máy, muốn nói chuyện với Chuẩn úy.
- Cải cách, ủng hộ, Đống đa.
- Ông dẹp mẹ nó mấy cái chữ ngụy hóa tào lao đó đi được không ? Đang làm gì ngoài đó ?
- Thưa Đại úy, tôi đang điều chỉnh tác xạ súng cối tám mươi mốt ly.
Tiếng của Đại úy Tiểu đoàn trưởng gằn giọng trong máy:
- Dạ thưa ông Chuẩn úy, ông muốn điều chỉnh tác xạ thì kệ ông nhưng trước khi bắn ông phải báo cáo về căn cứ, ông có biết tất cả mọi người ở đây khi nghe súng cối đề pa là xuống hầm hết hay không ? Họ đang báo động là VC pháo kích. Tôi chỉ tiếc là không còn chỗ nào nữa để đưa ông đi, không lẽ lệnh cho ông dẫn vài thằng lính, ôm lựu đạn đi kích ở chân đèo ?
Ngừng một chút như để dằn cơn giận (tôi đoán như vậy), Đại úy Tiểu đoàn trưởng rên rỉ:
- Chuẩn úy ơi là chuẩn úy, ông làm ơn quên cái quân trường của ông được không ? Đợi ông tính toán xong xuôi, bắn được 1 viên đạn súng cối thì tụi VC đã tràn ngập mẹ nó cái đồn của ông rồi.


Mãn hạn trấn thủ lưu đồn, tôi được gọi trở về căn cứ. Chuẩn úy Hòa đã chuẩn bị sẵn một bữa tiệc thịnh soạn với đủ món ngon để đón người về từ đỉnh núi. Một nồi canh rau muống nấu với tôm khô trong đó có thêm mấy trái cà chua đỏ tươi, cá lóc kho tiêu, một đĩa trứng chiên. Hơn một tháng ở tiền đồn chỉ toàn cá khô, thịt hộp, cơm sấy và rau rừng gồm đủ mọi thứ lá từ đăng đắng, nhân nhẩn đến chua chua, giờ đây được ăn canh rau muống thì quả thật đây là thứ rau ngon nhất trần đời. Cơm nước xong xuôi lại đến màn cà phê phin với sữa đặc có đường hiệu ông Thọ đàng hoàng, mùi cà phê thơm lừng, vị ngọt của đường, chút béo của sữa, hòa với cái đăng đắng của cà phê mới hớp một ngụm đã thấy sảng khoái cả tâm thần, bao nhiêu là mệt mỏi khổ cực biến đi đâu mất.
Bum..bum..bum.
-Pháo kích, pháo kích.
Tiếng la của ai đó từ bên ngoài vọng vào, âm vang chưa kịp dứt thì.
Ầm..ầm..ầm.
Không biết bao nhiêu là trái đạn súng cối 82 ly tới tấp thi nhau nổ, những tiếng nổ liên tiếp kéo dài liên tu bất tận. Tôi cảm nhận được sự rung chuyển của mặt đất, bụi từ trên nóc hầm lã chã rơi xuống mù mịt căn hầm. Lần đầu tiên trong cuộc đời, thật sự chạm mặt với chiến trường, đứng trước mũi tên hòn đạn, thấy được cái chết sừng sững trước mắt, tôi lặng người đi vì sợ hãi, hoảng hốt thì đúng hơn. Khi đạn pháo bắt đầu thưa dần, tôi mới bình tỉnh trở lại. Nhìn ly cà phê váng bụi, tiếc của trời tôi bưng lên ực một hơi, cà phê thoang thoảng mùi con gián chết. Tôi vơ vội cây súng M16 cùng với chuẩn úy Hòa chạy ra giao thông hào.
Lúc này thì 2 khẩu đại bác 105 ly của căn cứ bắt đầu phản pháo, đạn 105 ly vụt đi, chưa biết có trúng được nơi VC đặt súng hay không nhưng âm thanh của nó nghe thật là phấn chấn.
Lại đến đợt pháo thứ 2, lần này thì ít hơn chỉ độ vài chục trái. Người lính đứng bên cạnh tôi nói:
-Không sao đâu chuẩn úy, ở đây pháo ban ngày thì không sợ cái màn “tiền pháo hậu xung” lát nữa lên dọn dẹp là xong chuyện, coi như không có gì xảy ra.
-Hạ sĩ ở đây bao lâu rồi?
-Gần một năm, lúc đầu khi mới xuống sợ pháo kích quá sức, riết rồi thành quen đâm ra lờn, có pháo cũng như không. Mà nè, làm một điếu thuốc cho ấm phổi đi chuẩn úy.
-Làm thì làm, sợ gì.
Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình.
-Chuẩn úy Đạt, có lịnh gọi ông đi trình diện.
Tôi vội vàng đi qua hầm của bộ chỉ huy. Trên đường đi tôi tình cờ gặp một người lính nằm bò càng dưới đất, chân mang đôi giày bốt đờ sô to qúa khổ so với thân hình của ông ta. Ông ta đang dùng lưỡi lê để đào một trái đạn súng cối 82 ly chưa nổ. Khi moi được một nhúm đất ông ta dùng tay gạt nhẹ qua một bên rồi lại đào tiếp, khi đào được phân nửa trái đạn, cái đuôi viên đạn súng cối đã hiện nguyên hình, bất ngờ người lính rút hai tay lại xoa vào nhau rồi lẩm bẩm trong miệng “ hãy còn nóng”.
-Anh đang làm gì vậy? Tôi hỏi.
Quay đầu nhìn tôi, người lính nói:
-Đào đem đi dụt, chuẩn úy.
Tôi đoán là anh ta ở trong toán tháo gỡ đạn dược. Không muốn hỏi nhiều khi anh ta đang thi hành công vụ, tôi lặng lẽ quan sát hiện trường. Nhìn gương mặt của anh ta đỏ gay đỏ gắt, mồ hôi nhễ nhãi chảy dọc theo hai bên thái dương, nhìn trái đạn còn nóng hổi, tôi suy nghĩ một chút rồi lẹ làng dọt mau mau cho được việc, đứng đó lạng quạng lỡ trái đạn nổ bất thình lình, mình bị chết lây lảng nhách.
Tôi trình diện trung úy đại đội trưởng, ông ta là người Thượng nhưng nói tiếng Kinh khá sõi.
-Chuẩn úy sẽ là trung đội trưởng trung đội 1. Ông đi gặp hạ sĩ quan tiếp liệu lãnh địa bàn, bản đồ và vật dụng cần thiết. Hôm nay đại đội của...
Ầm...chỉ một tiếng nổ vang lên từ bên ngoài, trung úy đại đội trưởng nghiêng đầu như nghe ngóng rồi hỏi.
-Cái gì nổ vậy?
-Trung úy có muốn tôi ra coi không?
-Thôi kệ nó đi, hôm nay đại đội của mình đi hành quân bảy ngày, mục tiêu là lục soát vùng VC đặt súng cối, ông về chuẩn bị.
Trên đường về, tôi thấy mấy người lính quân y bu quanh xác một người lính không đầu với mảnh hình hài nhầy nhụa nát tan. Nhìn xuống đôi giày bốt đờ sô to qúa khổ, tôi biết anh ta là ai rồi. Mới nói chuyện với tôi đó mà, cuộc sống phù du, sống đó rồi chết đó, dễ dàng như chuyện uống miếng nước, ăn chén cơm, hút điếu thuốc.


*

Trung đội phó báo cáo quân số của trung đội, tôi kiểm soát lại cấp số đạn và 7 ngày lương khô của binh sĩ. Trong lúc tôi đang dùng viết chì mỡ khoanh vùng đỉnh núi chỉ cho trung sĩ nhất trung đội phó mục tiêu cuả cuộc hành quân.
-Chuẩn úy, em là Năm thẹo, ông đưa hết đồ đạc cá nhân của ông em mang cho. Từ đây về sau ông thầy cứ yên tâm, mọi chuyện đã có Năm thẹo lo hết.
Tôi nhìn anh binh nhì đang đứng trước mặt, trạc tuổi tôi nhưng thân hình to lớn dềnh dàng, tóc quăn, da mặt ngăm ngăm đen, với đôi mắt sáng quắc, thoạt nhìn đã thấy rõ cái ngang tàng ngạo nghễ trong con người của anh ta. Một vết thẹo dài chạy dọc theo bên má trái từ chân mày đến cằm, vết thẹo làm tăng thêm phần lì lợm, bụi đời trên gương mặt của Năm thẹo. Thật sự mà nói nếu không nhờ vào bộ đồ lính với cặp lon chuẩn úy nơi cổ áo, có cho kẹo tôi cũng không dám nhìn anh ta. Tôi lấy gân, gồng mình hỏi.
-Ngày xưa em ở đâu?
-Dạ, Tôn Đản, Khánh Hội ông thầy.
-Có phải du đảng không đó?
Năm thẹo chật lưỡi, gãi đầu.
-Dạ, cũng có dính líu chút ít.
-Năm thẹo nè.
-Có gì chuẩn úy.
-Mày vén áo lên tao coi, còn bốn cái thẹo nữa ở đâu?
-Ông thầy ơi, một cái thẹo trên mặt thêm hai cái xương sườn gãy khi bị du đảng Cầu Muối thanh toán khiến em nằm nhà thương cả tháng trời, nếu lãnh thêm bốn cái thẹo nữa chắc em chết từ cái đời nào rồi. Em tên Năm, vì có cái thẹo trên mặt nên bạn bè gọi là Năm thẹo, riết rồi chết tên luôn.
Tôi chọn Năm thẹo làm đệ tử và biết rằng kể từ đây mạng sống của tôi và Năm thẹo sẽ buộc chặt lấy nhau. Tôi cần đến sự giúp đỡ của Năm thẹo trong khi đi hành quân. Ngược lại chưa hẳn Năm thẹo cần đến sự bao che của tôi.
Sau 2 ngày leo núi, tối ngày thứ ba đại đội đóng quân trên đỉnh núi với thế đất hình yên ngựa, chuẩn bị sáng hôm sau sẽ lục soát đỉnh núi bên cạnh, nơi VC đặt súng cối.
Suốt đêm, trên đỉnh núi cao vời vợi, tôi nằm một mình trên chiếc võng nghe gió hú, từng hồi, từng cơn, tiếng gió hú nghe như từ cõi âm vọng về lạnh lùng đến rợn gáy.
Năm thẹo bất chợt nói với tôi, giọng nói nhỏ như là cơn gió thoảng bên tai.
-Ông thầy, lần đầu nghe gió hú phải không?
-Ừ, nghe nó rờn rợn làm sao ấy.
-Nghe riết rồi cũng quen thôi ông thầy à, gắng ngủ đi, lấy sức mai còn lội tiếp.
Mờ sáng ngày thứ tư, khi sương mù còn bao phủ dày đặc trên đỉnh núi, tôi dẫn trung đội 1 đi đầu tiến đến mục tiêu. Tiểu đội 1 báo cáo có nhiều đường mòn, họ tránh không dùng đường mòn vì sợ mìn bẫy. Khi trung đội của tôi đã chiếm đóng mục tiêu, bố trí phòng thủ, 3 trung đội còn lại lần lượt đến, lịnh đại đội trưởng bung rộng ra để lục soát, tìm nơi chôn giấu súng cối và đạn.
Ầm...ầm..
Hai tiếng nổ liên tục, tôi biết có chuyện chẳng lành. Qua máy PRC 25 trung đội 3 báo cáo với đại đội trưởng, 2 binh sĩ chết, 2 bị thương do mìn VC gài lại. Cùng lúc đó tôi nhận được lịnh dùng mìn phá rừng dọn bãi đáp cho trực thăng tải thương.
Sau gần 2 tiếng đồng hồ làm việc cật lực, chúng tôi phát quang được một khoảng trống khá rộng đủ chỗ cho trực thăng xà xuống bốc ngưòi.
Vẫn biết rằng “xưa nay chinh chiến mấy ai về”, bài Lương Châu Từ còn đó nhưng khi nhìn hai xác chết được cuốn gọn trong tấm poncho, đầu đuôi cột chặt thêm phiếu tải thương cột bên hông khiến tôi nghĩ đến chuyện da ngựa bọc thây tưởng chỉ có trong điển tích của Tàu, giờ đây nó ngay trước mắt mình. Những ngày đầu vào lính, khi lãnh quân trang có thêm cái poncho, tôi chỉ nghĩ là nó dùng để che mưa, không biết được công dụng khác là dùng như tấm da ngựa để bọc thây khi chết. Tôi nói với Năm thẹo:
-Nếu tao có phải cuộn mình trong tấm poncho mày làm ơn nhắn lại với ba má của tao là: “Tao thương ông bà”, chỉ có thế thôi.

Hai Đại đội phòng thủ căn cứ, hai đại đội hành quân di động tiêu diệt địch ở bên ngoài, có nghĩa là cứ lội 15 ngày trong rừng, sau đó về phòng thủ căn cứ dưỡng quân 15 ngày.
Một năm rưỡi trôi qua, một năm rưỡi giải nắng dầm mưa, hít thở cái lạnh lẽo của cao nguyên, cơm thì gạo sấy thịt hộp, nước thì suối cạn trong rừng, đụng độ với địch dăm bảy lần, tôi lãnh được 2 cái huy chương, cọng thêm cái biệt danh “ Đạt húc”.
Ngày tôi lên chức Thiếu úy cũng là lúc thực thụ nắm Đại đội trưởng, cũng ăn tục nói phét như điên, chửi thề uống rượu như máy. Tôi là đại đội trưởng sáng giá nhứt của tiểu đoàn, là cánh tay mặt của tiểu đoàn trưởng, ông ta coi tôi như thằng em nhỏ, tình thân giữa ông và tôi là cái tình nửa nhà binh nửa là người anh lớn lo cho thằng em.
Tôi tưởng rằng cuộc đời của mình sẽ cứ như vậy mà đi qua, không ngờ có một ngày đặc biệt khiến tôi nhớ mãi suốt đời, ngày mà cuộc đời lính của tôi bước sang khúc quanh mới. Hôm ấy, tôi với tiểu đoàn trưởng cùng vài người lính trong tiểu đoàn uống rượu tiêu sầu, ở chốn thâm sơn cùng cốc này ngoài rượu ra có gì để mà giải sầu đâu ? Sau vài ly xây chừng tôi hỏi Đại úy :
- Ngày mới ra trường khi trình diện, tại sao ông giận dữ đày tôi đi tiền đồn ?
- Có gì đâu, tao không thích chuẩn úy Hòa vì nó đánh đấm thì chẳng ra cái con mẹ gì, đã vậy suốt ngày cứ say sưa. Chú mày mới chân ướt chân ráo đến đây đã có vẻ muốn theo chân chuẩn úy Hòa, cho nên tao đày đi tiền đồn cho bỏ ghét.
- Nếu lúc đó trên đường ra tiền đồn, xe Dodge bị trúng mìn nát bét thì sao ?
- Chú mày nhắc tao mới nhớ. Sau khi chú mày đi rồi tao mới hết hồn, trong lúc nóng giận tao quên mất chuyện mìn gài đầy đường. Đang còn bực bội chưa hết, tiếp theo chuyện chú mày lại điều chỉnh tác xạ súng cối khiến tao giận cành hông. VC pháo kích vào căn cứ là chuyện thường tình, đằng này phe ta pháo kích phe mình, không giận sao được.
- Đại úy à, tôi còn thêm câu hỏi này nữa. Ngày đó tôi còn ngơ ngơ ngáo ngáo như con ngỗng đực lại thêm không gốc, không rễ cho nên mới bị đày xuống đây. Đại úy chắc cũng vậy chứ gì?
- Chú mày chỉ được cái giỏi là suy bụng ta ra bụng người. Đúng, tao bị đày xuống đây nhưng lý do thì khác, tao đâu có phải là con ngỗng đực.
Đại úy Châu xé miếng khô nai to bằng bàn tay đưa lên trước mặt, lật qua rồi lật lại, ông nói mà như là than thở
-Cuộc đời của tao nó cũng bầm giập như miếng khô này, bị phơi không biết bao nhiêu là nắng, sấy cho đến lúc khô queo khô quắc, giờ đây lại bị nướng trên lửa than rồi hun khói, cháy đen thui là phải. Chú mày biểu Năm thẹo xé nhỏ miếng khô này, dầm trong tô nước mắm ớt, chanh đường rồi đem lên đây.
- Đại úy cần gì nữa không?
- Không.
Đưa tay với lấy cái zippo có hình con cọp nâu nhe hàm răng đủ 13 cái, đại úy Châu đốt một điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ, khói thuốc màu trắng xám chập chờn uốn lượn trong không gian, lan tỏa khắp căn hầm, ông nhắm mắt như muốn thả hồn theo khói thuốc.
-Thiếu tá Nguyễn Văn Tinh Châu, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Biệt Động quân là tao.
Tôi lặng người đi vì không ngờ xếp của mình trước kia là thiếu tá mà lại là thiếu tá tiểu đoàn trưởng của một binh chủng lừng danh.
-Đại úy, ông bị giáng cấp phải không?
Không buồn trả lời câu hỏi của tôi, đại úy Châu nâng ly rượu nốc một hơi, ông uống rượu mà nhăn mặt như là đang uống cạn đắng cay của cuộc đời. Đặt ly rượu xuống bàn, đại úy Châu thong thả nói, giọng nói nghe trầm trầm như âm vang từ qúa khứ vọng về.
-Ở một vùng biên giới, chú mày có biết nơi mà giòng sông chảy ngược hay không?
-Đại úy nói gì? Nước chảy ngược?
-Ừ, tất cả sông ở miền Trung của Việt Nam đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn chảy về hướng đông, tức là chảy ra biển, riêng khúc sông này nó lại chảy về hướng tây, tức là đổ qua Lào, cho nên người ta gọi nó là sông chảy ngược. Tại đây, một đại đội đi đầu của tao đụng độ nặng với Việt Cộng. Địch quân đông như kiến, hỏa lực hùng hậu, hàng chục khẩu cối 82 ly pháo như mưa vào cái đám con của tao. Chú mày biết rồi, bên kia biên giới là an toàn khu của Việt cộng, nơi mà họ dưỡng quân, nghỉ ngơi thiếu điều dựng lều hát chèo, xây sân khấu cho văn công trình diễn văn nghệ thì cũng chẳng có ai làm gì.
Trong lúc đại đội bị nguy khốn cần yểm trợ hỏa lực, tao yêu cầu cố vấn Mỹ xin không yểm, nhìn gương mặt lạnh lùng như cái xác chết của thằng cố vấn, kèm theo giọng nói tĩnh bơ như không phải chuyện của nó “Bên kia biên giới, không lực Mỹ không yểm trợ được vì vi phạm luật trung lập của Lào”.
Rừng núi bao la, cây cối xanh um, mây trắng ngút ngàn một đường kẻ cong quẹo trên bản đồ, nhỏ như sợi chỉ gọi là đường biên giới nó quá sức mù mờ, đẩy qua phía bên kia dăm ba cây số cũng được, kéo lại bên này vài cây số cũng xong, biết đâu là chân lý? Giận thằng cố vấn Mỹ cứng ngắt theo nguyên tắc, nóng ruột vì của đau con xót, đám con của tao đang khắc khoải đợi chờ yểm trợ từng giây từng phút, cứu binh như cứu lửa, chậm một phút kể như ôm hận ngàn đời. Tao nổi điên rút cây colt 45, lên đạn.
Tôi nghĩ rằng mình biết về xếp của mình nên lanh chanh hớt lời.
-Chỗ này thì tôi biết, ông bắn chết thằng cố vấn Mỹ chứ gì?
-Nói tầm bậy, ai nói với chú mày như vậy?
-Bọn lính kể với tôi.
Một thoáng không vừa lòng hiện ra trong đôi mắt của đại úy Châu, ông chỉ vào cây cột to chần dần giữa hầm.
-Chú mày qua dựa lưng vào cây cột đó rồi nói chuyện cho đở mỏi.
-Tôi còn khỏe mạnh, có mệt mỏi gì đâu.
-Ông bà mình có nói “Biết thì thưa thốt, không biết thì ..”
Tôi ngậm câm như thóc rồi tự hứa với mình là phải học hỏi thêm nhiều nơi ông, bỏ đi cái tính nhanh nhẩu đoảng.
Đại úy Châu rót thêm rượu vào cái ly của tôi.
-Thói đời, có ít cứ nới cho nhiều, thêm thắc, vẽ vời cho lắm, có một đồn mười, dám tụi nó đồn tao là hung thần giết người như ngoé cũng nên. Tao chỉ bắn què giò thằng cố vấn Mỹ sau đó phải tự lực cánh sinh, đem mấy đại đội còn lại cấp tốc đi đường vòng đánh thẳng vào nơi đặt súng cối của Việt Cộng, giải vây cho đám con của tao. Tao cứu được đám con đem về bên này biên giới nhưng không cứu được bản thân tao.
Ra tòa án quân sự vì tội bắn cố vấn, tao bị lột lon, giáng một cấp và đuổi ra khỏi binh chủng. Tao mang lon đại úy và đi đày ở đây như mày thấy. Đã ba năm qua rồi, giờ thì tất cả đã chìm sâu vào dĩ vãng. Tao không bao giờ ân hận về việc làm của mình, cũng như không bao giờ quên binh chủng, máu của cọp mũ nâu vẫn còn chảy trong huyết quản của tao. Mỗi khi nhớ tới đơn vị cũ tao lại bận bộ đồ Biệt Động Quân, bận để thương nhớ binh chủng của mình hơn là tiếc cho cái lon thiếu tá.

Nhưng mà thôi, chuyện xưa dẹp qua một bên để dành làm kỷ niệm. Tao có món quà đặc biệt, chú mày sinh quán ở đâu ?
- Đalat.
-Tao chỉ muốn hỏi lại thôi, không có gì bàn cãi nữa. Đây là công điện từ bộ Tổng Tham Mưu gởi Tiểu khu Darlac với nội dung là Trường Võ Bị Dalat cần một sĩ quan tham mưu, tao đã dành chỗ này cho chú mày. Sau khi nhậu xong, qua bên cố vấn Mỹ theo trực thăng về tiểu khu để hoàn tất thủ tục thuyên chuyển. Lẹ lên, không được bỏ lỡ cơ hội, cờ tới tay mà không chịu phất, chần chờ có đứa nào khác nó chộp mất thì phiền.
-Tôi có biết gì về tham mưu đâu. Nghề của tôi là húc mà.
-Đừng có lo, trước đây hai năm, có bao giờ chú mày nghĩ rằng chú mày là một thằng đại đội trưởng có hạng hay không ?
Vui buồn lẫn lộn, về quân trường thì an toàn cho bản thân, khỏi phải lội suối băng rừng nhưng những ân tình của lính cũng như là của tiểu đoàn trưởng đã dành cho mình thì sao ? Tôi còn sống cho đến ngày hôm nay là nhờ sự hy sinh của họ, lấy gì báo đáp đây ?
-Đại úy, tôi có một thỉnh cầu xin đại úy giúp cho.
-Gì nữa đây?
-Tôi đi rồi bỏ Năm thẹo bơ vơ một mình, tội nghiệp nó.
-Tao vẫn thích những đứa thủy chung, có trước có sau như mày. Tao sẽ đem Năm thẹo về bộ chỉ huy tiểu đoàn với tao, mày vừa ý chưa?
-Chưa, đại úy à, thằng em đi rồi ông ở với ai ?
-Chú mày khéo lo bò trắng răng. Khi nào VC ũi xập cái căn cứ này thì lúc đó mày hãy lo. Ngày rời khỏi địa ngục trần gian, tôi ôm Đại úy Tiểu đoàn trưởng khóc ròng.

*
Cổng Nam Quan của trường Võ Bi Đalạt không to lớn, không đồ sộ, trên nóc cổng là ngọn cờ Quốc Gia tung bay phất phới, dưới chân cột cờ là phù hiệu của trường với thanh kiếm bạc chỉ thẳng lên trời, thêm hàng chữ “ Tự thắng để chỉ huy” nổi bật trên nền gạch đỏ, nhờ sự phối hợp hài hoà khiến cổng trường trông oai nghiêm, hùng dũng. Hình ảnh cổng Nam Quan, biểu tượng của trường Võ Bị Đalạt như in sâu vào trong trí nhớ của tôi. Tôi bước chân qua cổng. Bắt đầu từ đây, tôi là sĩ quan cơ hữu của trường.
Theo con đường tráng nhựa sạch bong, không một cọng rác, hai bên vệ đường cỏ mọc xanh rì, được cắt tỉa gọn gàng, tôi đi thẳng đến phòng nhân viên. Trên đường đi, tôi chào kính mệt nghỉ, chào mỏi tay. Sau này tôi mới rõ thêm, trường Võ Bị Đalạt là nơi quần anh tụ hội. Hình như ở đây quan nhiều hơn lính, quan cấp úy đếm không hết, quan cấp tá phải vài chục ông, đã vậy có lúc trong trường còn thêm hai ông tướng, Thiếu tướng chỉ huy trưởng, Chuẩn tướng chỉ huy phó.
Mang một cái bông mai trụi lủi như tôi, chào kính mỏi tay là phải. Chưa chi tôi đã nản chí anh hùng, muốn hát bài “Hổ nhớ LOK”, một mình một chợ, tha hồ múa gậy vườn hoang, dẫn gần trăm người lính, lội nửa tháng trong rừng nhìn khắp bốn phương, tìm khắp tám hướng chỉ thấy cái bông mai của mình là lớn nhất.
Trường Võ Bị Đalat xây trên ngọn đồi thấp với cao độ 1500 mét, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 5km, được kiến trúc theo kiểu Mỹ gồm nhiều dãy nhà 4 tầng, dùng làm nơi ở cho sinh viên có 4 doanh trại, mỗi doanh trại có khoảng 100 phòng ngủ, phòng ăn rộng mênh mông bát ngát đủ sức dọn ăn cho trên 1000 sinh viên cùng ăn một lượt, thư viện với đầy đủ sách cho sinh viên nghiên cứu, riêng nhà thí nghiệm nặng được xây âm dưới đất. Sân cỏ của vũ đình trường Lê Lợi lúc nào cũng xanh mướt với con đường tráng nhựa bọc quanh, tất cả đều sạch sẽ ngăn nắp. Qua cái nhìn đầy chủ quan của tôi thì khó có học viện quân sự nào ở Đông Nam Á có thể sánh bằng.
Điều hành trường gồm có 3 khối : Văn hóa, Quân sự và Tham mưu, phòng làm việc của tôi ở tầng 2 ngay cầu thang xoắn ốc của Bộ chỉ huy, đối diện với phòng của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.
Đang từ một chỗ quanh năm suốt tháng sống dưới những căn hầm chật chội, ẩm thấp đêm cũng như ngày lù mù lờ mờ trong ánh sáng của ngọn đèn dầu hột vịt bé tí tẹo, giờ đây tôi ngồi làm việc trong căn phòng rộng rãi, thoáng mát với tất cả đầy đủ tiện nghi. Hơn 10 cái điện thoại trước mặt, gồm 2 hot line dùng để liên lạc trực tiếp với phòng 3 của bộ Tổng Tham Mưu, 2 class A liên lạc khắp miền Nam, 2 class C liên lạc trong tỉnh và 5 điện thoại nội bộ, phải mất cả tháng trường tôi mới tạm quen với công việc..
Có những buổi chiều thu, khi mây xám giăng đầy bầu trời Đalat, từng cơn mưa phùn kéo nhau qua quân trường, mưa nhè nhẹ, từng hạt mưa nhỏ, nhỏ như hạt bụi vướng vào cửa kính, trong phòng hơi nước phủ mờ mặt gương, thoải mái với không khí ấm cúng của căn phòng khiến tôi bồi hồi nhớ lại những cơn mưa ở LOK, nhớ những buổi chiều, trên cao nguyên vùng biên giới với bầu trời xám xịt, nằm trên chiếc võng nhìn từng giọt nước theo sợi dây cột ở đầu võng rơi tóc tách, âm thanh nghe buồn đến nát ruột, nhớ đến những người lính co ro, run rẩy trong bộ quần áo sũng nước mưa, nhớ Năm thẹo vác tôi chạy như bay đến trực thăng tải thương, dưới cơn mưa pháo của VC, nhớ Đại úy Tiểu đoàn trưởng quay người bước đi như trốn chạy khi ông ta tiển tôi rời khỏi LOK. Đột nhiên ý tưởng xin trở về LOK hiện ra trong đầu tôi.
Gần 5 năm ở trường Võ Bị Đalạt, tôi chưa một lần đụng đến cây súng treo ở góc phòng. Phải đợi cho đến cuối tháng 3 năm 1975, tôi mới cầm lại cây súng M16 cùng với quân nhân cơ hữu và khoảng 1000 sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đalạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan của trường Bộ Binh Thủ Đức.
Giã từ đồi Tăng Nhơn Phú, sau 7 năm lưu lạc, tôi trở về để tình cờ thấy lại hình bóng của mình ngày xưa với mồ hôi nhễ nhại, cát bụi lấm lem đầy người, đang thi hành lịnh phạt hai mươi cái bơm dầu bên cạnh ông huynh trưởng đứng phùng mang trợn mắt huấn luyện đàn em. Trở về để thấy thuở còn là sinh viên sĩ quan, đang thực tập tác xạ ở sân bắn dưới cái nóng như thiêu đốt của Thủ Đức. Tôi trở về trong lúc đất nước đang ở trong tình huống cực kỳ bi thảm. 27 tuổi, cái tuổi lo chưa tới, tôi trở về trường mẹ để phải ngậm ngùi, buồn thấm thía với câu nói của cổ nhân: “Lá rụng về cội”.


Khi nghe đọc lời tuyên bố buông súng chờ bàn giao trên đài phát thanh Sàigon, tôi hơi bàng hoàng sửng sốt mặc dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước.
Tôi mượn ông cậu của tôi bộ đồ dân sự tròng vô người, nó rộng thùng thà thùng thình trông chẳng ra làm sao cả, nhưng nhằm nhò gì ba cái chuyện lẻ tẻ. Tôi phóng Honda ra đường, chạy ngang qua trại Hoàng Hoa Thám, nơi tôi đã cùng 200 Sinh viên Võ Bị Đalạt về đây học nhảy dù, suốt 5 tuần lễ, sáng, trưa, chiều, tối lúc nào cũng vừa chạy vừa đếm nhịp :
Nhảy dù cố gắng
Cố gắng nhảy dù.
Qua Lăng Cha Cả với mấy chiếc tăng T54 cháy đen thui, chứng tích sự kháng cự của Nhảy dù. Dọc theo đường Công Lý, đây là con đường một chiều thế nhưng hàng ngàn chiếc Honda cái chạy xuôi, chiếc chạy ngược cứ loạn cả lên, mạnh ai nấy chạy. Hình như người ta chạy để mà chạy chứ chẳng biết chạy đi đâu. Hai bên lề đường giày bốt-đờ-sô, nón sắt, súng M16 cùng với những bộ quần áo rằn ri vứt lăn lóc, lòng tôi chợt quặn đau khi nhớ tới bộ đồ dù, trong đáy túi quân trang của tôi khi còn ở quân trường.
Đến trước Dinh Độc Lập tôi hơi rợn người, xe tăng của VC đã đậu khắp trong sân. Bên ngoài cũng tăng và lính cộng sản bố trí khắp công viên, kéo dài qua tòa Đại sứ Mỹ thẳng về phía sở thú, trùng trùng điệp điệp xe tăng và lính cộng sản.
Trên nóc Dinh Độc Lập cờ Quốc gia đã được thay bằng lá cờ 2 màu xanh đỏ của mặt trận giải phóng. Tôi cố nhìn một lần cuối cùng, muốn ghi lại trong trí nhớ của mình hình ảnh Dinh Độc Lập trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. Trong lúc tất cả mọi chuyện hình như đã đặt dưới sự kiểm soát của VC, đột nhiên từ cánh phải bên trong Dinh Độc Lập nhiều loạt đạn M16 thi nhau nổ giòn giã, xé tan cái bầu không khí ngột ngạt, khó thở. Tiếng súng nghe như đầy căm phẩn, xen lẫn với đau thương uất hận, khiến tôi nghĩ đến hình ảnh con mãnh sư mang thương tích trầm trọng khắp mình, cất tiếng hú bi ai trước giờ tử biệt. Qua kẽ hở hàng rào dinh, tôi thấy lính cộng sản rối loạn hẳn lên, người ta chen lấn, đổ dồn về phía hàng rào. Tôi đoán ngay đó là những tiếng súng của Liên đoàn Phòng vệ Tổng Thống Phủ, tiếng súng của những người lính có nhiệm vụ bảo vệ Dinh Độc Lập.
Khoảng 5 phút sau từ cánh cửa nhỏ bên hông của dinh, một ông Thiếu úy Cảnh sát Dã chiến hai tay ôm vòng ra phía sau đầu bước ra, theo sau ông ta khoảng một trung đội cảnh sát dã chiến. Không tin vào đôi mắt của mình, Cảnh sát Dã chiến lại phòng thủ Dinh Độc Lập, chuyện khó tin nhưng những bộ đồ bông da báo, màu nâu đậm và vàng nhạt, thêm chiếc mũ nồi màu đen đã xác nhận họ là Cảnh sát Dã chiến.
Tất cả xếp hàng một dọc theo hàng rào, mặt quay vào tường, quỳ xuống, riêng viên thiếu úy thì không chịu quỳ, ông ta đang nói gì đó với đám lính cộng sản. Trong lúc bất ngờ một cán binh VC giáng nguyên cái báng súng AK vô đầu viên thiếu úy, thêm một cái đạp sau bắp chân. Tôi thấy ông ta qụy xuống đất, thân hình lảo đảo, ngả nghiêng nhưng vẫn cố gắng gượng lại, cuối cùng như một con báo vàng với vết thương đâm ngay tử huyệt, cả thân hình của viên thiếu úy đổ dài xuống đất. Ông ta nằm bất động, một giòng máu tươi chảy dọc theo mang tai nhuộm đỏ cái bông mai vàng nơi cầu vai áo.
Mắt của tôi cay. Môi của tôi mặn, bất lực đứng nhìn, thương cho viên thiếu úy Cảnh sát Dã chiến, thương cho mình, thương cho Việt Nam.

*

B
ất tuân thượng lệnh khi đối đầu với địch quân sẽ bị đưa ra tòa án quân sự mặt trận xét xử.
Viên thiếu úy Cảnh sát Dã chiến đứng trước hàng trăm chiếc tăng T54, PT76 với đại bác, đại liên, trước hàng ngàn lính cộng sản với đầy đủ AK và B40, ông ta cùng với trung đội của mình đã không chịu buông súng đầu hàng theo lệnh của cấp trên. Có nên đưa ông Thiếu úy và trung đội Cảnh sát Dã chiến của ông ta ra tòa án hay không ?
Câu trả lời xin nhường lại cho quý vị. Phần tôi, tôi chỉ thuật lại những gì tôi thấy.
Khi mà tôi biết được bộ đồ bông da báo của Cảnh sát Dã chiến cũng đẹp và oai hùng như bộ đồ rằn ri của nhảy dù thì mọi chuyện đã trễ rồi. Đồng hồ đeo tay của tôi chỉ 1 giờ kém 5 trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Dinh Độc Lập từ đây chỉ còn trong ký ức.

Tuesday, October 19, 2010

Vợ Lính Thời Chinh Chiến...



Vợ Lính Thời Chinh Chiến...

Lời Giới Thiệu (Giao Chỉ - San Jose): Tác giả bài viết này là một phụ nữ sinh trưởng ở Bàu Trai, miền Đông Nam Phần. Đây là một địa danh mà các quân nhân từng hành quân ở vùng 3 chiến thuật đều quen biết. Từ câu chuyện tình đơn sơ, một thiếu nữ hiền lành trở thành người vợ lính thời chiến. Đời sống gia binh, người chồng chuẩn bị đi hành quân, tiếng khóc của góa phụ nhà kế bên, tiếng xe Jeep của chàng trở về chạy trên sân sỏi, tiếng súng đêm đêm vọng lại, những lần từ biệt vội vàng, các chuyến về thăm nhà bất chợt giữa các trận đánh. Người vợ lính với 20 năm khắc khoải, hạnh phúc đếm từng ngày để đến lúc tan hàng lại tiếp tục lo cho chồng đi cải tạo. Chúng ta đã từng đọc các trang sử chiến tranh của nam nhi thời binh lửa. Bây giờ xin một lần đọc để thông cảm cho những giọt lệ của phụ nữ VN trong vai trò vợ lính thời chinh chiến.

Trong các chị em gái của gia đình, tôi là đứa con gái nhút nhát nhất. Tôi không thích xem phim chiến tranh, sợ nghe tiếng súng nổ, nên tôi không mong muốn lấy chồng nhà binh như phần đông các cô gái khác thích những chàng trai trong bộ quân phục oai hùng. Có lẽ tôi chịu ảnh hưởng của Ba tôi. Ba tôi là viên chức hành chánh, ông thường than phiền một số sĩ quan trẻ ngang tàng và lái xe ẩu.

Một đêm khuya sau Tết Mậu Thân năm 1968, chúng tôi nghe tiếng gõ cửa, Ba tôi cẩn thận đuổi chị em tôi vào phòng, đóng cửa kỹ lại. Ông bỏ cây súng nhỏ vào túi quần và ra mở cửa. Một sĩ quan trẻ tuổi mặc rằn ri vào xin cho binh sĩ đóng quân trong khu vườn nhà tôi và cho cấp chỉ huy của họ ở tạm trong phòng khách. Lúc đó Ba tôi mới yên tâm biết là đơn vị đi hành quân về đến đây tìm chỗ nghỉ quân.
Lính ở đầy trong khu vườn nhà tôi nhưng không phá phách gì như một số người đồn đại. Riêng vị sĩ quan ở trong phòng khách nhà tôi với cái ghế bố nhà binh nhỏ bé, nằm khiêm nhượng ở một góc phòng. Cuộc sống gia đình tôi không có gì thay đổi khi có mặt vị sĩ quan này. Chúng tôi lịch sự không đi tới lui trong phòng khách. Ban đêm thỉnh thoảng chúng tôi nghe những câu hát vu vơ hoặc vài câu vọng cổ của các người lính trẻ than thở nhớ gia đình và người yêu. Chúng tôi thông cảm và thương mến họ hơn.

Dần dần ba mẹ tôi có cảm tình với vị sĩ quan chỉ huy. Những lúc rảnh rỗi, ông đến nói chuyện hoặc được ba tôi mời ăn cơm gia đình. Ông sĩ quan này mượn phòng khách để làm nơi hội họp của bộ chỉ huy, nhờ thế gia đình tôi quen biết thêm vài sĩ quan nữa. Câu "quân dân như cá nước" là đúng, chúng tôi thân tình rất mau, có những bữa ăn hoặc những buổi tối ngồi chung để xem ti vi thật vui vẻ. Quan niệm không tốt về nhà binh, cảm giác sợ sệt những người lính chiến trong bộ quân phục rằn ri không còn nữa.

Cũng nhờ dịp đơn vị dừng quân, tôi đã gặp nhà tôi sau này. Anh là một trong các sĩ quan trẻ của đơn vị. Chúng tôi biết nhau qua sự giới thiệu của vị sĩ quan quen thân với gia đình như đã kể trên. Một thời gian sau chúng tôi thương nhau và anh xin làm đám hỏi sớm để còn lên đường đi hành quân. Có lần anh nói, gia đình hối thúc cưới vợ, nhưng "Đời lính tác chiến xa nhà, ra đi không chắc có ngày trở lại, cưới vợ chỉ làm khổ cho người đàn bà." Và anh không muốn vướng bận thê nhi trong thời ly loạn. Sau đó anh đi hành quân liên tục, thỉnh thoảng tôi chỉ nhận được thư. Hơn một năm sau đơn vị anh về đóng quân tại Biên Hòa gần Sài Gòn, đây là dịp tiện lợi để chúng tôi tổ chức đám cưới.

Tôi theo chồng về ở căn nhà trong trại quân đội. Bây giờ tôi cảm thấy hạnh phúc nhất, ngoài gia đình cha mẹ thương yêu, tôi còn có người chồng tính tình trầm tĩnh, hòa nhã với mọi người. Sau những ngày nghỉ phép cưới vợ, anh trở lại cuộc sống nay đây mai đó, anh đi ba bốn tháng mới về một lần hoặc lâu hơn tùy tình hình chiến sự.

Khi anh chuẩn bị đi hành quân tôi không hề biết trước nhưng dễ nhận ra ngay. Tôi thấy những binh sĩ làm việc với anh lăng xăng dọn dẹp chuẩn bị quân trang. Nhưng tôi vẫn mong mình nghĩ lầm. Anh trở về nhà gương mặt đượm nét quan trọng, ít nói với tôi hơn. Bận rộn với giấy tờ, điện thoại và dặn dò người này người kia liên tục. Tôi hiểu anh không có thì giờ để nghĩ đến gia đình. Tôi không quấy rầy anh, tôi luôn luôn nhớ lời dạy bảo của ba tôi trước khi tôi đi theo chồng: "Con đừng bao giờ xen vào công việc của chồng con." Ăn cơm tối xong anh tiếp tục chuẩn bị tài liệu. Tôi buồn vì sắp phải xa chồng, không biết làm gì hơn là ngồi sau lưng anh, áp má vào sau lưng anh im lặng. Anh làm việc đến gần nửa đêm, xong anh kêu tôi lại ghế salon ngồi, anh dặn dò mọi việc ở trong nhà, có buồn trở về nhà cha mẹ chơi, nhất là phải cất kỹ tờ giấy hôn thú. Tôi hiểu anh muốn ám chỉ điều gì, tôi nghe lòng tê tái. Tôi có bao giờ nghĩ đến mười hai tháng lương tử tuất để thành góa phụ! Không, tôi chỉ cần chồng tôi. Sau đó chúng tôi chỉ ngủ được vài giờ. Ba giờ sáng trong sân trại rầm rộ tiếng xe, tiếng nói ồn ào của lính. Trong cảnh lờ mờ tối, tôi nhìn ra sân thấy những người lính, lưng đeo ba lô nặng nề, đầu đội nón sắt. Trong số đó sẽ có người không trở lại. Quang cảnh này trái hẳn với những ngày đại lễ, những người lính trong bộ quân phục thẳng nếp, tay cầm súng đi diễn hành rất đẹp.
Khi chồng tôi bắt đầu mặc áo giáp, đeo súng ngang hông, lòng tôi tê tái, có một cái gì đó làm cho tôi bất động, chỉ biết nhìn anh và im lặng. Sau cùng anh đội nón sắt và đưa tay vỗ vào má tôi nói: "Thôi anh đi". Anh không có những cử chỉ âu yếm hơn, những lời từ giã nhiều hơn như những lần anh đi làm việc bình thường hay đi ăn cơm với bạn bè. Anh sợ làm tôi khóc. Tôi muốn nói anh cố sớm trở về với em, nhưng càng dặn dò càng đau lòng trong buổi chia tay. Tôi cố gắng không cho nước mắt trào ra. Tôi nhìn anh thật kỹ, để hình ảnh anh in sâu mãi trong lòng tôi. Tôi thầm nghĩ, không biết lần này anh có còn trở về không? Không thể chờ xe anh khuất bóng, tôi chạy vội vào giường khóc nức nở. Cảnh này cứ diễn đi diễn lại trong cuộc đời làm vợ lính của tôi. Có lần tôi nói với anh, khi đi hành quân cho em biết trước để em chuẩn bị tư tưởng cho đỡ sợ. Nhưng có lẽ vì bí mật quân sự hoặc cuộc hành quân gấp rút, anh chẳng bao giờ chiều tôi chuyện đó.

Mỗi lần nghe có tin đơn vị anh đụng độ lớn tôi chỉ biết vào phòng âm thầm cầu nguyện, lo sợ gặp những sĩ quan đến báo tin buồn. Có lúc anh về thăm tôi thình lình. Mừng rỡ không được kéo dài bao lâu lại nghẹn ngào vì anh ra đi sớm hơn lời hứa. Một buổi chiều anh về và nói chiều mai mới đi. Tôi vui mừng vì trưa mai vợ chồng tôi sẽ có chung bữa cơm với nhau. Nhưng đến tối có tiếng điện thoại, anh nghe xong nói với tôi sáng sớm mai anh phải đi. Thế là mất một đêm hạnh phúc, chỉ có tiếng than thở và tiếng nức nở của tôi.

Khi tôi có thai được sáu tháng, lúc đó anh đóng quân tại Bến Tre, anh biết gia đình tôi có quen thân với ông bà bác sĩ tại Mỹ Tho. Anh hẹn gặp tôi tại đó để anh đến thăm vì từ Bến Tre chỉ qua một cái phà là đến Mỹ Tho. Anh cho biết sẽ ở chơi từ trưa đến chiều mới đi. Sáng ngày ấy ba tôi chở tôi xuống Mỹ Tho, sẵn ba tôi thăm lại người bạn cũ. Tôi gặp anh ngượng ngùng mắc cỡ với cái áo bầu khoác ngoài. Tuy là vợ chồng nhưng ít khi sống gần gũi nhau nên đối với anh đôi khi tôi vẫn còn e thẹn. Sau khi chúng tôi hàn huyên được nửa giờ, chúng tôi dùng cơm trưa, tuy có mặt ba tôi và hai ông bà bác sĩ nhưng tôi cũng cảm thấy hạnh phúc lắm. Bữa cơm chưa xong, chồng tôi có máy truyền tin gọi trở về đơn vị, vậy là anh lại đi ngay. Tôi tiếp tục dùng cơm, nhưng món ăn trở nên lạt lẽo, dầu bà bác sĩ nấu rất ngon. Thương con, ba tôi cáo biệt về Sài Gòn sau buổi cơm. Trên xe ông nhìn tôi và vuốt tóc thông cảm.

Một đêm tôi đang ngủ bỗng giật mình thức giấc bởi tiếng khóc thảm thiết của bà hàng xóm, tôi vội đến cửa sổ nhìn ra ngoài để xem chuyện gì xẩy ra. Bên ngoài đêm tối yên tĩnh bị đánh tan bởi tiếng khóc của người vợ trẻ vừa được tin chồng tử trận ngoài chiến trường, cùng đi hành quân chung đơn vị với chồng tôi. Chị khóc lóc, kêu gào, gọi tên chồng nhưng chồng chị sẽ mãi mãi không trở về nữa. Tôi trở lại giường nằm nhưng không ngủ được, tôi thương cho người đàn bà góa phụ kia và lo sợ cho bản thân mình. Sáng hôm sau người vợ trẻ đầu phủ khăn tang, gương mặt xanh xao cùng với bà mẹ già đi lãnh xác chồng theo sau hai đứa con khoảng ba, bốn tuổi, đầu chít khăn trắng. Chúng nó vô tư không biết gì, thật ra ba chúng đi hành quân luôn, ít khi ở nhà. Bây giờ không có lời an ủi nào làm chị vơi được nỗi buồn, chỉ mong thời gian sẽ hàn gắn vết thương lòng của chị mà thôi. Sau này chị kể, chị nghe tiếng chim cú kêu chiều hôm đó, chị nghĩ có điều xui rồi. Tôi không bao giờ tin dị đoan, tôi không xem bói vì thầy bói nói vui tôi không tin, nói buồn tôi phải bận tâm lo lắng, nhưng bây giờ tôi lại sợ tiếng cú kêu.
Một chị bạn quen, chồng cũng là bạn thân với chồng tôi, nhà ở trong cư xá đối diện, với ba đứa con nhỏ. Chồng đi hành quân không chắc có ngày về, tinh thần của chị ngày càng suy nhược, cộng thêm những lần thay mặt gia đình đi dự đám tang qúa nhiều bạn bè thân thiết bị tử trận. Tinh thần đã sẵn yếu, ngày càng trở nên suy sụp. Lúc ở Việt Nam, bác sĩ phải cho uống thuốc an thần. Sau này may mắn được di tản qua sống ở Mỹ nhưng rồi cũng không tránh khỏi bệnh nan y Alzheimer, chị hoàn toàn mất trí, thể xác trông cậy vào người chồng thủy chung, ngày xưa là người chỉ huy chiến trận tài ba, bay giờ biến thành người y tá tận tụy và hy sinh nhẫn nại cho người vợ tao khang, quen biết từ thuở còn niên thiếu.

Ngày tôi sanh cháu bé, chồng tôi được nghỉ phép, anh ở hẳn trong nhà thương với tôi, mặc cho những lời dị nghị của các cô bác theo xưa cho như vậy là không tốt là bị "mắc phong long". Mấy ngày sau tôi rời nhà thương, anh được lệnh đi hành quân tại Campuchia. Nhìn anh đi tôi khóc mãi vì nghe tin đồn ở Campuchia thường bị "Cáp duồn". Mẹ tôi khuyên "Con mới sanh khóc như thế không tốt đâu". Nhưng tôi đâu nào nghĩ đến sức khoẻ của tôi, tôi lo cho anh và không muốn con tôi mất cha. Hàng ngày bận bịu nuôi con, nghĩ đến anh tôi chỉ biết cầu nguyện.

Đến năm 1973 chồng tôi chuyển sang làm việc hành chánh, mặc dù ở đâu cũng là phục vụ cho nước nhà, nhưng anh không thích lắm. Riêng tôi vui vẻ hơn vì đây là dịp mẹ con tôi được sống với anh hàng ngày. Tại đây anh vẫn phải đi xuống thăm các quận thường xuyên. Đã có các sĩ quan thỉnh thoảng bị chết vì địch phục kích dọc đường, cho nên tôi vẫn tiếp tục lo lắng cho anh. Ngày này qua ngày khác, mỗi buổi chiều tôi nghe chiếc xe lăn bánh trên con đường đá sỏi vào cổng là tôi biết anh đã bình yên trở về. Có những chiều anh về rất muộn, tôi không yên tâm được, vào phòng ngồi bất động âm thầm cầu nguyện. Tình thương đã khiến tôi rất thính tai, tiếng cổng mở cửa từ xa tôi đã nghe được, lúc đó tôi mới thở phào nhẹ nhõm, đi ra ôm lấy con và cùng nhau ra đón ba nó.

Có những đêm pháo kích tôi sợ quá, một tay ôm choàng lấy con, một tay nắm chặt tay anh, nhưng sau khi đợt pháo kích đầu tiên đã chấm dứt, anh phải vội vã từ giã mẹ con tôi để băng qua cửa hông nhà đi xuống hầm trung tâm hành quân, hầu tiện việc chỉ huy yểm trợ các đơn vị đồn trú địa phương. Muốn cho chồng luôn được bình yên và tôi bớt đi nỗi lo âu để yên tâm làm việc nội trợ, một hôm tôi đưa cho anh xâu chuỗi mà vị linh mục đỡ đầu đã cho anh ngày rửa tội. Tôi nói "Anh nhớ luôn bỏ xâu chuỗi này vào túi áo mỗi ngày anh đi làm việc, để có Chúa phù hộ anh và em đỡ lo lắng cho anh." Tôi biết đàn ông tánh không chu đáo lắm nên tôi nói thêm "Anh thương em hãy nhớ lời em dặn."

Ngày tháng cứ thế trôi qua, chiến sự càng ngày càng sôi động, cho đến một ngày mẹ con tôi từ giã anh, trở về ở với ngoại, để anh không phải bận tâm gia đình. Chúng tôi từ giã đời sống gia binh. Lần này tôi cũng nhìn anh rất kỹ và niềm hy vọng gặp lại anh ít hơn.

Khi cuộc sống của người vợ lính thời chiến chấm dứt thì những ngày nghiệt ngã mới lại bắt đầu. 30/04/75 đã chấm dứt cuộc đời binh nghiệp của chồng tôi và anh đi tù với mười ba năm cải tạo. Riêng tôi, ngoài trách nhiệm nuôi chồng, nuôi con, nỗi lo âu vẫn còn và sự mong đợi chồng về mỏi mòn hơn.
Sau cùng, nhờ ơn trên, nhà tôi đã trở về. Anh vẫn còn giữ xâu chuỗi ngày xưa đã cùng anh sống trong ngục tù với những chỗ bị đứt đã nối lại và rơi mất một hạt.

Hơn hai mươi năm làm vợ lính thời chiến, 13 năm vợ tù cải tạo của thời bình, là người con gái ở miền quê Bàu Trai, tôi có làm gì đâu mà suốt đời chỉ sống với nước mắt.

Chiến tranh đã cướp mất tuổi thanh xuân của bao nhiêu người vợ trẻ. Chỉ còn lại Việt Nam, một quê hương điêu linh, một dân tộc bất hạnh triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.


Thôn Nữ Bàu Trai
Tháng Tư 2004
(Mến tặng Anh Chị Đỗ Sơn)

Tuesday, October 5, 2010

TỪ GIÃ ĐỜI BAY BỔNG




Từ Giã Đời Bay Bổng

Tháng 4 lại trở về, đã hơn 30 năm trôi qua, ngồi nghĩ lại mà cứ ngỡ chuyện vừa xảy ra ngày hôm qua. Tôi xin gởi đến anh em Không Quân câu chuyện mà chắc rằng ai trong chúng ta cũng đã có ít nhiều kỷ niệm khó quên trong đời quân ngũ.

Từ tháng 1,1975 tình hình chiến sự miền Nam đã bắt đầu đi đến giai đoạn thảm khốc, Cộng Sản (CS) tấn công kháp nơi, Ban Mê Thuột, Phước Long... đã mất vào tay CS. PD255, Xà Vương, ứng trực chuẩn bị giải vây Phước Long, tôi được biết mình có tên trong hợp đoàn sẽ về tiếp cứu Phước Long... khiến tôi nhớ lại Mùa Hè 72. Vào năm đó tôi phục vụ Phi đoàn 211, Thần Chùy, chúng tôi đã tham dự chiến trận giải vây An Lộc. Trận chiến rất cam go, hàng ngày đều có vài phi hành đoàn Trực Thăng, Khu Trục rớt tại chiến trường An Lộc, rất may mắn phi đoàn 211 không mất một phi hành đoàn nào mặc dù tất cả phi cơ đều bị trúng đạn không thể xử dụng cho cuộc đổ quân. Tôi còn nhớ cố Thiếu Tướng Ánh đã bay từ Cần Thơ cùng với tướng Lành, Tư lệnh phó Không Quân, đến Lai Khê để an ủi và khích lệ tinh thần anh em phi đoàn 211. Thật cao quý thay tấm thịnh tình của các cấp chỉ huy, và trước ngày hết hạn biệt phái, chúng tôi được tin tướng Ánh đã tử nạn trong phi vụ câu chiếc L19... tại Cần Thơ, xin một phút mặc niệm đến vị chỉ huy khả kính, anh cả ngành trực thăng.

Phi vụ biệt phái giải vây và tiêp cứu Phước Long giờ chót đã hủy bỏ, tôi và các bạn lại tiêp tục bay bổng như xưa... ngày đi hành quân, đêm về trực bay chống pháo kích... Tôi có cô bạn gái tên T. (bây giờ là bà xã), nhân viên Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ tại Cần Thơ, cho tôi biết Hoa Kỳ sẽ bỏ miền Nam và T. cùng gia đình đã có tên rời khỏi Việt Nam. Tôi không tin vì vùng IV chiến thuật vẫn còn yên lành, quân lực VNCH đang chiến đấu anh dũng....hàng ngày T. gọi điện thoại cho biết tin tức tại sở làm và có cho tôi biết: "Cô đã xin xếp (boss) Hoa Kỳ cho tôi được phép đi cùng nếu tôi muốn"... Tôi hoang mang, lo sợ không biết phải quyết định ra sao? Gia đình cha và anh em tôi sống tại Vũng Tàu. Thỉnh thoảng tôi có liên lạc điện thoại với gia đình, và được biết gia đình vẫn bình an tôi cũng đỡ lo. Một hôm tôi gặp T. ,và tôi đã trả lời cho T: "Tôi sẽ không ra đi... tôi ở lại chiến đấu với anh em, tôi đã có kế hoạch lo cho tôi và gia đình". Thật ra lúc đó tôi chẳng có kế hoạch hay phương cách gì cả, tôi trả lời cho T. được an tâm mà di tản cùng với gia đình.

Và những chuỗi ngày kế tiêp, tôi có gặp T. tại nhà và T. đã nói : "Anh không đi chắc em cũng không đi". Ôi tình yêu của T. đối với tôi tha thiết quá, khiến tôi càng khó xử thêm. Từ tháng 2, 1975 Không Quân không còn yểm trợ Bộ Binh như xưa, các phi hành đoàn trực ra check tàu rồi nằm chờ. Đêm đến căn cứ báo động thực tập chống pháo kích... ngày nầy qua ngày nọ chán ôi là chán!!!

Cuối tháng 3,1975 các phi đoàn trực thăng vùng I và II di tản về phi trường 31 tạo nên một khung cảnh hỗn độn và phức tạp... tăng thêm nỗi hoài nghi về cuộc chiến chống CS trong lòng tôi. Những phi đoàn trực thăng 211, 217, 225, 227 và 255 thuộc SD 4 KQ với những phi vụ yểm trợ SD 21 BB và các đơn vị bạn vẫn ngày đêm hành quân bảo vệ vòng đai Cần Thơ. Có những đêm tôi bay gunships, trực chính tại sân cờ căn cứ 40 chiến thuật, hoặc trực phụ thì ngủ đêm tại Sở 4 an ninh , ngoài vòng đai phi trường 31, phòng khi VC pháo kích, tấn công căn cứ và phi hành đoàn trực chính không cất cánh được thì phi hành đoàn trực phụ sẽ cât cánh yểm trợ. Tình hình chiến sự miền Nam càng ngày càng bi đát thêm, khiến tôi và các bạn thêm hoang mang, lo sợ không biết phải hành động ra sao? Những bạn bè di tản từ vùng I, II nhìn chúng tôi với đôi mắt kỳ lạ mỗi khi chúng tôi vác túi bay, áo giáp ra tàu bay hành quân. Trong khi bay thì chúng tôi nghe trên tần số UHF/Guard các phi hành đoàn bạn rời thành phố bay ra biển tìm Hạm đội 7 Hoa kỳ để đáp...người tìm được, kẻ thì hết xăng... giã từ bạn bè... ôi còn cảnh nào buồn hơn nữa.

Khoảng trung tuần tháng 4, 1975 bọn CS đêm đêm pháo kích vài trái đạn vào thị xã Cần Thơ, khiến tôi càng lo cho T. và gia đình vì nhà T. gần dinh Tư lệnh Quân đoàn IV. Một hôm tôi đến thăm T. tại nhà và tôi đã khuyên: " Em hãy rời khỏi Việt Nam, anh sẽ lo liệu cho thân anh, vì nếu em còn ở lại Cần Thơ thì khó cho hai đứa lúc tình hình nguy ngập". Sau cuộc thăm viếng nầy, T. gọi điện thoại cho biết sẽ về Saigon lo thủ tục rời Việt Nam với gia đình và có hứa sẽ gửi thơ về thăm tôi... Tôi chúc T. và gia đình đi bình an và đừng bận tâm nhiều về tôi, tôi sẽ tự lo liệu cho tôi??? Thú thật tôi cứ nghĩ miền Nam sẽ có giải pháp Trung lập... thì tại sao phải ra đi? Vả lại trọn gia đình tôi vẫn sống an lành tại Vũng Tàu, nếu có ra đi tôi sẽ mang cả gia đình cha, anh, chị, em đi cùng. Trong khi ở Saigon, T. thường gọi điện thoại cho tôi... T. lại nhắc chuyện rời Việt Nam với T. thì điện thoại bị gián đoạn. Lần cuối T. điện thoại từ giã để vào tòa đại sứ Hoa Kỳ rời Việt Nam, một lần nữa tôi chúc T. và gia đình lên đường bình an.

Rồi đến việc Dinh Độc Lập bị dội bom, TT. Thiệu từ chức... khiến tôi thêm hoang mang và lo lắng. Một hôm đi bay yểm trợ quân bạn xung quanh Cần Thơ, về phi trường Cần Thơ đổ xăng, khi vào chỗ đổ xăng thì thấy bên cạnh có chiếc trực thăng đang đổ xăng chở đầy các tướng Không Quân ông nào cũng có sao trên cổ áo... tôi và phi hành đoàn không màng chú ý và lo đổ xăng tiếp tục phi vụ, sau nầy được biết chiếc trực thăng đổ xăng đưa các tướng rời Việt Nam.

Đêm 28/4/75 tôi bay gunships, trực chính bảo vệ phi trường Cần Thơ. CS pháo kích vào Cần Thơ, tôi và XV14 cất cánh về hướng quận Bình Minh tìm bọn CS để "trả đũa". Chúng tôi đã làm "câm họng" bọn CS. Nghe đâu đêm 28 hoặc 29/4 các gia đình Không Quân được CH.47 đưa ra Côn Sơn tạm trú??? Riêng phần tôi, độc thân, con bà phước nên được "chiếu cố bay bổng" liên miên nên chẳng có thời giờ để theo dõi tin tức chiến sự.

Việc gì đến rồi sẽ đến, ngày 30/4/75, phi trường Cần Thơ đóng cửa....Ngày đó tôi "lead guns", XV 11 "lead slicks", XV 55 bay C&C trong phi vụ yểm trợ TrD 32/SD21BB hành quân tiêp ứng quận Cờ Đỏ. Chúng tôi trình diện tại sân bay Navy, Bình Thủy vào lúc 9:00 AM . Trong lúc chờ đợi, tôi có gặp Đ/t Biết, Trung đoàn Trưởng Tr.Đoàn 31/SD21BB và ông có nói : "Sao mấy thằng Không Quân tụi mầy còn ở đây không đi? Ngày mai 1/5 tụi nó sẽ vào tiếp thu", tôi nhìn ông và trả lời: " Đ/t không đi thì làm sao tụi tôi đi đươc". Cùng lúc đó Tr/u B, gun số 2, mang bản đồ và rủ tôi cất cánh đi Cà Mau, đổ xăng rồi bay sang Mã Lai. Tôi cảm thấy phiêu lưu quá nên từ chối và có nói : "Từ từ đâu còn có đó." Chúng tôi hợp đoàn cất cánh chở lính và đổ quân xuống quận Cờ Đỏ, trên đường bay "slicks" bị CS bắn, XV11 thông báo và "guns" đã yểm trợ hữu hiệu trên đường bay cho anh em "slicks" không còn bị đe dọa bởi những tiếng súng"vu vơ" của bọn CS. Trong lúc bay, tôi để tần số "Guard"/UHF để nghe và theo dõi tình hình anh em KQ, thì đột nhiên nghe Paddy gọi: "Thần Báo,Thần Chùy, Xà Vương" đây Paddy,
"Paddy Xà Vương tôi nghe" tôi trả lời.
"Yêu cầu Xà Vương qua tần số FM xx.xx để liên lạc" Paddy yêu cầu.

Tôi chuyển qua tần số FM và cố gắng liên lạc nhưng không được nên tôi gọi Paddy :"Paddy tôi không liên lạc được ai trên tần số FM nầy cả". Chợt có tiếng nói từ tần số "Guard" :" Xà Vương, tôi là ALO tại Sóc Trăng gọi, nhờ bạn xuống cứu chúng tôi đang bị CS tấn công". Tôi vội gọi và thông báo tin nầy đến C&C, và cùng lúc đó anh xạ thủ nghe Tổng Thống Dương Văn Minh, qua đài phát thanh Saigon, ra lệnh đầu hàng vội báo cho tôi được rõ. Tôi liền thông báo đến XV55, C&C ,và XV55 cho lịnh "slicks" và "guns" thả lính tại phi trường Navy, về Cần Thơ đổ xăng chờ lịnh. Khi hợp đoàn hành quân bay ngang phi trường Trà Nóc, tôi gọi đài để xin bay ngang phi đạo với cao độ thấp thì không ai trả lời cả... về phi trường Cần Thơ định vào đổ xăng thì thấy các phi cơ cất cánh tùm lum...vô trật tự, và tôi thấy một vài chiếc trực thăng vừa cất cánh đã rớt.... Tôi bay cao độ khoảng 500 bộ trên phi đạo, anh xạ thủ yêu cầu tôi bay "cao cao" vì sợ khẩu súng đại liên 30mm đặt tại đài kiểm soát nổ súng bắn hạ. Tôi nói "Mình có súng miniguns mà sợ gì".

Với cảnh rối loạn và phi cơ cất cánh vô trật tự, chắc chắn là hợp đoàn không thể đổ xăng tại phi trường Cần Thơ được, nên tôi gọi XV11 hãy cùng tôi bay về phi trường Vị Thanh đổ xăng. "Slicks" bay thấp trên kinh Xà No, "guns" bay hai bên yểm trợ để tránh pháo binh vì lúc nầy tôi không liên lạc được với Paddy. Trong khi bay xuống phi trường Vị Thanh, tôi chợt nhớ lại không anh em nào có mang phiếu đổ xăng thì làm sao đổ xăng. Tại vùng IV, trực thăng đổ xăng tại các phi trường nhỏ thì phải ký phiếu xăng sau khi đã đổ xăng tại điểm tiếp liệu do các anh Bộ binh kiểm soát. Vì vậy khi gần đến phi trường Vị Thanh, tôi gọi XV11 và anh em trong hợp đoàn hành quân hãy bình tĩnh đừng làm những gì khiến anh em tại trạm xăng nghi ngờ và chúng ta không có xăng để đi Côn Sơn, nếu cần tôi sẽ dùng gunships uy hiếp và sau đó anh em sẽ đón tôi sau. Khi vào ụ đổ xăng, anh Trưởng Trạm Tiếp liệu chạy xe Honda đến gặp tôi (vì tàu tôi đậu ụ thứ nhất) và hỏi: " Sao mấy ông xuống mà không thông báo"? Tôi vội trả lời: " Lịnh Quân đoàn xuống đây đổ xăng đi giải vây tiếp cứu tỉnh Sóc Trăng, anh hãy mở vòi xăng lẹ lên".

Hợp đoàn đổ xăng đầy đủ, anh em nào muốn về Cần Thơ đón thân nhân thì về, phần còn lại theo XV11 và tôi đi Côn Sơn. Trên đường ra Côn Sơn, chúng tôi có bay ngang tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi thấy thành phố Sóc Trăng đang chìm trong lửa khói... thật đau lòng vì mình không đủ khả năng tiếp cứu... xin một lời tạ lỗi với quân, cán chính, tỉnh Sóc Trăng!!! Chúng tôi đã liên lạc được với XV33,44,13, chúng tôi cố gắng liên lạc với XV 55, C&C , để thông báo tin tức của hợp đoàn hành quân cũng như tình hình tại phi trường Cần Thơ... nhưng gọi mãi không ai trả lời. Sau nhiều lần cố gắng liên lạc với XV 55... cuối cùng chúng tôi đáp tại Côn Són và đó cũng là phi vụ cuối cùng trong đời bay bổng của tôi...

HUỲNH VĂN CHỪNG

Trích trang web Cánh Thép
http://www.canhthep.com

Monday, October 4, 2010

AN LỘC NGÀY VỀ



An Lộc Ngày Về

Lời nói đầu : Xin tặng anh em phi đoàn 211 và anh em binh chủng Nhảy Dù đã anh dũng chiến đấu bảo vệ An Lộc khỏi tay bọn CS.

Nói đến chiến trường An Lộc, mùa hè đỏ lửa 1972, không ai trong chúng ta mà không biêt hay không có một vài kỷ niệm khó quên. Thời gian đó, tôi phục vụ phi đoàn Thần Chuỳ 211 thuộc vùng IV Chiến Thuật. Vì chiến trường An Lộc quá nặng nề và khốc liệt, nên chúng tôi (phi đoàn 211) được biệt phái lên vùng III Chiến Thuật để tăng cường lực lượng phòng thủ và giải vây An Lộc; nếu An Lộc mất thì thủ đô Saigon sẽ bị uy hiếp trầm trọng.

Sau khi đáp tại phi trường Biên Hoà, chúng tôi có dịp gặp lại anh em trực thăng thuộc Sư đoàn III Không quân những người hoa tiêu ra trường tại căn cứ Ft. Hunters, Savannah, GA năm xưa. Ngày hôm sau, chúng tôi hợp đoàn hành quân gồm: 1 C&C, 5 t/t đổ quân, và 2 t/t võ trang trình diện tại phi trường Lai Khê. Tại phi trường nầy, chúng tôi thấy anh em Nhảy dù đang ngồi hai bên đường bay, và tôi đã gặp lại hai anh bạn sĩ quan Nhảy dù đã học cùng trường Trung Học Vũng Tàu ngày xưa đó là Đ/U Minh, Th/U Chiến thuộc tiểu đoàn 8 Nhảy dù . Vào khoảng 9giờ sáng, chúng tôi được biết phi vụ ngày hôm nay là đố Lữ đoàn I Nhảy dù vào giải vây An Lộc và bốc thương binh về phi trường Lai Khê. Tôi và hai anh bạn Nhảy dù chia tay về vị trí hành quân. Qua cái xiết tay thật chặt, chúng tôi chúc cho nhau:
"Chiến trận ác liệt, cẩn thận, hẹn gặp mầy sau..." Tôi không ngờ lời chúc cho nhau đã trở thành lời vĩnh biệt vì sau nầy tôi được biết Th/U Chiến (khoá 23 VBĐL) đã hy sinh trong lần đổ quân nâỳ.

Ngày hôm đó tôi ngồi co-pilot t/t võ trang (gunships) cho Tr/U Tạo (sau nầy anh bay cho Tư lệnh quân đoàn IV cho đến ngày 30/4/75) . Chúng tôi hợp đoàn cất cánh lấy cao độ khoảng 5,000 bộ để tàu C&C bay ngược chiều từ An Lộc ra Lai Khê nhìn thấy chúng tôi vì C&C bay cao khoảng 10,000-12,000 (tránh phòng không và SA-7). Trên đường bay anh Tạo dặn tôi:
"Khi vào vùng đổ quân mầy nhớ follow controls (nắm tay vào cần lái điều khiển phi cơ) với tao nha!". Tôi rất ngạc nhiên vì thông thường khi trưởng phi cơ bay thì co-pilot chỉ có nhiệm vụ trả lời vô tuyến, hay vặn nút bắn rockets hoặc guns khi vào bãi đáp... nhưng hôm nay anh Tạo lại cho tôi "rờ" vào controls... tôi bèn hỏi lại anh:
"Chi vậy", anh trả lời:
"Nếu tao bị bắn lúc bay, mầy chụp controls, mang xác tao về!!!!!" Trời ơi! Nghe sao "lạnh cẳng quá". Tôi thường bay chung với anh trong những trận chiến khốc liệt tại vùng IV, nhưng chưa bao giờ anh nói với tôi những lời "trăn trối" như vậy.

Trên đường bay từ Lai Khê đến Chơn Thành (điểm hẹn gặp C&C), tôi có nói hai anh em bắn miniguns thử súng, nếu có trở ngại thì có thời gian để sửa chữa vì khi vào vùng mà bị kẹt đạn thì chỉ có "cầu nguyện" mà thôi. Tôi còn nhớ anh xạ thủ ngồi bên trái sau lưng tôi là anh Tân (Tân tây lai) một tay súng rất gan dạ đã cùng chúng tôi vào sinh ra tử nhiều lần nên chúng tôi rất tin tưởng nơi anh. Sau khi được hai anh cho biết hai khẩu miniguns thử tốt OK, chúng tôi rất an tâm với hai khẩu súng nầy bọn Vẹm khó mà ngóc đầu lên để bắn chúng tôi ở cao độ thấp.

Đến Chơn Thành, theo lịnh của C&C, hợp đoàn hành quân hạ cao độ thấp bay trên đầu cây cao su với tốc độ tối đa. Dẫn đầu hợp đoàn là hai chiếc guns của Biên Hoà, rồi đến t/t đổ quân, và sau cùng là hai guns chúng tôi (Thần chuỳ 211). Tôi còn nhớ bay tàu C&C ngày đó là Th/t Lê văn Lộc (Lộc bụng) phi đoàn 211(1), và một vị Th/t của một phi đoàn t/t tại Biên Hoà (rất tiếc tôi không nhớ tên). Xin được nói một chút về phi hành đoàn bay chiếc C&C nầy . Thông thường phi hành đoàn bay C&C hoa tiêu của phi đoàn nào thì bay cho phi đoàn đó, nhưng trong trưòng hợp nầy vì chúng tôi từ vùng IV lên tăng cường vùng III không quen đia hình địa vật vùng III và tránh bi thiệt hại nặng nên ban chỉ huy hành quân ngay đó đã biệt phái vị Th/t từ vùng III bay chung với th/t Lộc .

Xuống cao độ thấp, hợp đoàn bay theo sự chỉ dẫn của tàu C&C lúc quẹo trái, quẹo phải, để vào bãi đáp. Trên đường bay, tôi follow controls như lời anh Tạo dặn. Chúng tôi bay thấp trên đầu cây cao su, tôi ngó xuống chân (pedals) qua kiếng trắng (buble) phi cơ bay nhanh như chúng ta đi trên thảm xanh, hai bên và trên cây cao su bọn VC làm những cái võng treo đế bắn phi cơ bay thấp và để quan sát... Hai chiếc guns đầu bắn rockets đế dọn đường và chúng tôi yểm trợ phía sau và hai bên hợp đoàn với hai khẩu miniguns .

Anh Tạo bay, tôi ra lịnh hai anh xạ thủ tác xạ. Cây súng bên phải phía sau anh Tạo nhả đạn như mưa... cây súng bên trái (do anh Tân diều khiển) sau khi bắn được vài trăm viên đạn thì bị trở ngại không bắn được nữa... Phía bên trái con tàu không được bảo vệ, tôi và anh Tân ngó thấy bọn VC nhắm vào chúng tôi mà tác xạ. Tôi sợ quá trời... ngồi thấp xuống hy vọng tấm bửng che đạn bên hông sẽ che chở đạn cho mình... phần anh Tân ngồi không nhìn VC bắn anh sợ quá bèn chụp cây súng Carbine (các anh cơ phi xạ thủ được phát súng nầy thay vì P38) nhắm bắn VC... vì tôi ngồi thấp nên giữa cổ áo bay và cái cổ của tôi có một khoảng trống... nên khi anh Tân bắn vỏ đạn bay ngang rớt vào phía sau cổ của tôi và lọt xuống lưng quần... vỏ đạn nóng quá nên người tôi giật mỗi khi vỏ đạn rớt vào áo bay... anh Tạo tưởng tôi bị trúng đạn nên hỏi:
"Mầy bị trúng đạn hả!!!". Thật cảm động cho tình chiến hữu, trong giờ phút "thập tử nhứt sinh" nầy mà anh còn lo lắng cho tôi... tôi trả lời:
"Không có, vỏ đạn rớt vào phía sau lưng nóng quá..." Sau khi hợp đoàn thả lính xuống bãi đáp và bốc thương binh vê phi trường Lai Khê, rất may không có chiếc nào bị bắn rớt nhưng hầu hết bị trúng đạn rất nhiều nên không thể tiếp tục phi vụ. Sau khi đáp lại Lai Khê anh Tân thử súng lại và không bị trở ngại... tức quá tôi và anh Tân cùng chửi thề: "ĐM sau hồi nãy mầy (cây súng) im re dzậy". Anh Tân đá vào nòng súng mấy cái cho bõ tưc... nếu ai đó mà thấy cảnh nầy chắc cho rằng anh Tân là người điên!!!!

Chúng tôi rới Vùng III trở về Vùng IV tiếp tục hành quân giải vây chiến trường Kompong Trach bên Miên cũng không thua gì chiến trường An Lộc và những chiến trường khác tại Vùng IV .

(1) Th/t Lộc đã hy sinh tại chiến trường Mỹ Phước Tây trong phi vụ đổ quân BDQ mà tôi đã viết trong bài "Những cánh chim lìa đàn".

HUỲNH VĂN CHỪNG

Trích trang web Cánh Thép
http://www.canhthep.com

YỂM TRỢ GHE XUỒNG



Yểm Trợ Ghe Xuồng

Mỗi lần đến mùa xuân, tôi chợt nhớ đến chuyến bay yểm trợ tải thương (Dust Off) tại quận Hiếu Lễ thuộc tỉnh Rạch Giá mà tôi không bao giờ quên.

Vùng IV Chiến thuật còn được gọi là miền Tây, đất rộng cò bay thẳng cánh, kinh rạch chằng chịt; có lần một anh co-pilot lúc định tọa độ vị trí đã phải than rằng "Kinh ôi là kinh, biết kinh nào mà tìm"... Người dân miền Tây tính tình hiền hòa, ngay thẳng đúng là mẫu người miền Nam chân chính. Phương tiện di chuyển chính là đường thủy bộ (kinh,rạch) với những chiếc ghe máy đuôi tôm, ghe "tắc rán" để người dân đi từ đầu làng nầy đến xóm kia. Việc buôn bán thì được vận chuyển trên những chiếc ghe to lớn đi từ tỉnh nầy đến tỉnh nọ hoặc chở hàng về Saigon...

Vào dịp Tết năm 1973, hai bên Cộng Hòa và Cộng Sản đã ký hiệp định hưu chiến để toàn dân được vui hưởng ba ngày xuân. Về phía Cộng Hòa,vì đã học được bài học Tết Mậu Thân 1968, nên tất cả quân nhân nói chung và Không quân nói riêng đều phải ứng trực 100% tại chỗ.

Tôi còn nhớ ngày mùng một Tết, PĐ 255 trực Gunships yểm trợ cho tải thương. Tôi "được" cắt đi lead gun ngày hôm đó. Trong bụng chửi thầm :" Ngày Tết định trốn ra phố Cần Thơ đưa em gái hậu phương đi du hí để tỏ lòng quân dân cá nước...trực thế nầy thì còn cái gì vui nữa?" Thôi âu cũng là duyên số. Rồi tôi lại tự an ủi cho mình "Ngưng chiến thì còn ai lo đánh đấm gì nữa....chỉ phải có mặt tại phi đoàn mà thôi, biết đâu em gái hậu phương thấy mình côi cút mà vào phi trường thăm mình"... Sau khi làm tiền phi phi cơ xong, tôi dặn các anh em trực với tôi hãy sẵn sàng khi có lệnh cất cánh và ai nấy về phòng của mình nằm chờ.

Vào khoảng 10:00 sáng, chuông điện thoại tại cư xá độc thân reo "reng... reng", sĩ quan trực phi đoàn cho biết phi hành đoàn Gunships yểm trợ tải thương cất cánh và liên lạc với Hồng Điểu (danh hiệu phi cơ tải thương) trên tần số Paddy. Sau khi cất cánh từ phi trường Cần Thơ (phi trường 31), chúng tôi liên lạc với Paddy để báo cáo phi vụ và lộ trình cũng như xin tọa độ pháo binh để tránh né mục tiêu mà không cần yêu cầu pháo binh ngưng tác xạ, thì Hồng Điểu (HD), vào tần số Paddy và hẹn gặp chúng tôi, Xà Vương (XV) tại quận Hiếu Lễ.

Sau khi đáp xuống Hiếu Lễ, phi hành đoàn tải thương và Gunships vào văn phòng Quận để nghe thuyết trình tình hình bạn và địch tại bãi đáp. Xin được phép trình bày một chút về phi vụ yểm trợ nầy, thông thường các phi vụ tải thương rất ít cần tới Gunships vì phương tiện eo hẹp của quân đội VNCH, chỉ khi nào "HOT" lắm thì mới cần đến Guns. Vì vậy chúng tôi (Gunships) cần biết rõ tọa độ quân bạn để yểm trợ cũng như tránh tác xạ lầm. Được biết tọa độ tải thương là một tiền đồn nằm về hướng bắc quận Hiếu Lễ khoảng 30 cây số, địch bao vây chung quanh đồn chỉ trừ hướng Nam vì có dân chúng sinh sống nhưng không hiểu họ thuộc phe nào (Cộng Hoà hay Cộng Sản). Hướng Tây của đồn là một con sông lớn chạy ra hướng Rạch Giá nước chảy rất mạnh từ cửa biển đổ vào. Phía bắc của đồn là con kinh đào từ sông lớn chạy vào đất liền (cửa khẩu) con đường duy nhất để vào tiếp tế hoặc tải thương bằng xuồng, VC đã chiếm con kinh nầỵ

Sau khi nghe thuyết trình xong, chúng tôi (Hồng Điểu và Xà Vương) theo chiến thuật sau:
- Hồng Điểu sẽ bay từ quận Hiếu Lễ với cao độ 2000 bộ khi ở trên đầu cái đồn thì làm overhead approach từ hướng Nam lên Bắc. Tôi xin được giải thích phương thức đáp overhead cho các bạn KQ không ở trong ngành trực thăng được biết. Phương thức overhead là cho phi cơ bay trên đỉnh đầu của target rồi giảm tay ga (throttle) , hạ cần cao độ (collective) để độ rơi của phi cơ rơi thật nhanh đến khi thấy target thì lên tay ga trở lại và vào đáp thật nhanh tại target. Diễn tả các động tác thì rất dễ dàng nhưng thực sự hành động thì cần phải là những tay pilot cừ, giỏi, hạng nặng thì mới dám làm overhead nầy. Các pilot tải thương thì đáp kiểu nầy như cơm bữa , nên XV chúng tôi rất an tâm.
- Xà Vương, gunships, sẽ cất cánh trước đến gần tọa độ (đồn) bay vòng tròn hướng Tây của đồn ở bên bờ trái con sông lớn (từ Nam lên Bắc). Vì có lệnh ngưng bắn nên Gunships sẽ không khai hỏa, nếu bị VC bắn, chúng tôi sẽ bắn để yểm trợ và tự vệ.
- Binh sĩ trong đồn chuẩn bị thương binh tại bãi đáp khi nghe tiếng trực thăng đến.

"Xà Vương đây Hồng Điểu". Trực thăng tải thương liên lạc kiểm soát vô tuyến lần chót trước khi vào vùng.
"Hồng Điểu, Xà Vương nghe"..
"Còn khoảng 5 phút nữa sẽ vào vùng (bãi đáp)"
"Xà Vương đã thấy bạn (Hồng điểu) khi nào vào final approach cho biết,
chúng tôi ở cao dộ 1000 bộ về hướng tâỵ"

"Bravo đây Alpha" tôi gọi thằng số 2 của tôi trong tần số nội bộ.
"Bravo nghe Alpha"...
"Khi Hồng Điểu vào final, chúng ta sẽ đi từ Tây sang Đông (trục đánh), break phải gắt (steep right turn) làm vòng tròn 360 độ trở về hướng Đông, khi đó Hồng Điểu đà cất cánh rời đồn là cùng lúc Xà Vương lại vào trục đánh" tôi thông báo cho Bravo .
" Bravo nhận rõ"...

"Xà Vương đây Hồng Điểu..."
"Hồng Điểu, Xà Vương nghe"
"Hồng Điểu cao độ 1000 bộ trên target (đồn), quẹo phải, đáp từ Nam lên Bắc, nhờ bạn yểm trợ bờ sông phía Tây và con kinh hướng Bắc".
"Xà Vương đã thấy bạn, chúng tôi từ Tây sang Đông, yên chí".
Chợt có tiếng quân bạn vào tần số FM " Hồng Điểu bạn nói mấy con chó lửa (gunships) coi chừng bắn lầm mấy thằng con tui ở bờ Đông".
"Xà Vương bạn có nghe rõ" Hồng Điểu hỏi,
"Xà Vương nhận rõ".
Hồng Điểu, vào bãi đáp an toàn không bị bắn, có lẽ vì yếu tố "bất ngờ" hay là bọn VC sợ hai con "chó lửa"????
Đột nhiên tại bãi đáp bụi khói bốc lên mù mịt. Bãi đáp bị pháo kích.
"Xà Vương tôi cất cánh thẳng về hướng Bắc vì hướng Nam tụi VC đặt súng pháo vào đồn." Hồng Điểu thông báo qua tần số liên lạc.
"OK, bạn cất cánh, quẹo trái lấy cao độ về hướng Tây Nam, chúng tôi sẽ yểm trợ từ hướng Tây thẳng vào con kinh trước mặt bạn"

"Bravo, đây Alpha",
"Nghe", Bravo...
"Anh theo tôi, trục đánh từ Tây Bắc, hai bên bờ kinh, break phải, coi chừng Hồng Điểu bên tay phải, đưa Hồng Điểu qua sông rồi trở lại làm tiếp."
Sau khi đưa Hồng Điểu an toàn rời vùng, chúng tôi quay trở lại, bao nhiêu đạn, rockets chúng tôi "lì xì " ráo cho con cháu bác Hồ... Phi vụ xong, định rời vùng thì Hồng Điểu gọi
"Xà Vương đây Hồng Điểu"
"Xà Vương tôi nghe"...
" Hồng Điểu cám ơn bạn đã yểm trợ an toàn rời vùng... Bọn VC pháo kích vào bãi đáp làm tử thương anh Chuẩn úy trưởng đồn, lệnh Quân đoàn, phải bốc xác viên Ch/U với bất cứ giá nào, gunships ở lại yểm trợ cho đến khi hoàn tất nhiệm vụ, nghe rõ".
"Hồng Điểu, bãi đáp bị pháo kích, bạn đáp chỗ nào để bốc xác".
"Hồng Điểu sẽ đáp tại đồn phía Nam cách đồn trước khoảng vài cây số, bạn sẽ yểm trợ chiếc ghe "tắc rán" chạy từ đồn phía Nam và theo sông lớn chạy lên phía Bắc,vào con kinh mà bạn đã yểm trợ , bốc xác rồi sẽ theo đường cũ chạy về hướng Nam".
"Làm sao tôi biết chiếc ghe nào là bạn??" tôi hỏi Hồng Điểụ
"Chiếc ghe sẽ xuất phát từ đồn, người lính một mình trên chiếc ghe, đội nón lá, tay cầm cờ quốc giạ Khi nào anh ta bị VC tấn công thì anh ta sẽ phất cờ cho bạn biết để yểm trợ. Vì lý do bí mật, bạn đừng gây sự chú ý về chiếc ghe nầy với bọn VC mà hỏng việc"...
"OK. tụi nầy về phi trường Rạch Giá đổ xăng, trang bị (load) đạn, rockets. Cất cánh sẽ báo cho bạn rõ."

Cất cánh rời phi trường Rạch Giá, đến gần mục tiêu tôi liên lac:
"Hồng Điểu, đây Xà Vương, chúng tôi đã đến mục tiêu cũ"...
"OK, Xà Vương bạn thấy chiếc ghe chưa" Chúng tôi đảo mắt tìm kiếm một lúc cho đến khi phát hiện chiếc ghe có người đang phất lá cờ.
"Thấy rõ, có phải chiếc chạy giữa dòng sông, ghe có mang máy liên lạc không? Tần số nào để tôi liên lạc"
"Không có máy liên lạc gì cả, chỉ có lá cờ mà thôi..."
"OK, tụi tôi sẽ theo dõi kỹ chiếc ghe nầy"...

Chúng tôi bay vòng vòng bờ Tây, hoa tiêu, cơ phi và xạ thủ đều chú ý tầm mắt đến chiéc ghe nầy... Mỗi người một ý nghĩ, riêng tôi thì nghĩ phương cách nào yểm trợ chiếc ghe nầy đươc hữu hiệu; vì chưa bao giờ tôi đi yểm trợ chiếc ghe nào cả. Lúc trước đi thực tập bay với US Navy(Seawolfs) thì chỉ yểm trợ những chiếc tàu giang đỉnh, tuần duyên trong sông rạch, vận tốc chạy rất nhanh... bây chừ yểm trợ "tắc rán"... Suy nghĩ vu vơ... cho đến khi anh cơ phi báo cho biết "ghe đã gần bến"... Tôi lấy lại cần lái, và gọi số 2:
"Bravo, đây Alpha"....
"Nghe rồi cha nội "giọng Bravo chán chường có lẽ vì lần đầu tiên phải đi yểm trợ một phi vụ kỳ cục nầy....
"Trục đánh như cũ, nhớ lưu ý xóm nhà hướng Nam..."
" Rẹt....rẹt" Bravo bấm vào intercom hai lần dấu hiệu nhận rõ.

Chiếc ghe di chuyển chậm lại , từ từ rẽ phải để vào đầu kinh, chuẩn bị chạy vào đồn. Chúng tôi, mười sáu (16) con mắt chăm chú nhìn mọi cử động của chiếc ghe nầỵ Chợt chiếc ghe ngừng chạy tại ngã ba giữa sông và kinh, tôi thấy anh tài công (QNVNCH) đang ra sức kéo máy để di chuyển ghe... anh ta tiếp tục một hồi lâu thì chúng tôi thấy máy nổ trở lại và chiếc ghe từ từ đi giữa con kinh và cặp lại trước đồn. Chúng tôi mọi người thở dài nhẹ nhõm...

Sau khi chiếc ghe đã cặp vào đồn, chúng tôi (gunships) vẫn bay phía bờ Tây chờ đợi chiếc ghe rời đồn. Tất cả anh em phi hành đoàn đều giữ im lặng , vô tuyến liên lạc hoàn toàn im hơi... không khí thật ngột ngạt... tất cả nhản quan đều chăm chú nhìn vào chiếc ghe và cái đồn nhỏ bé đang chờ bọn CS "làm thịt". Tôi tự nghĩ không hiểu bọn CS có biết chiếc ghe vừa vào đồn là để lấy xác hay không????????
Mây chiều từ đâu đã kéo đến che phủ một phần bầu trời, tôi nghĩ trong đầu "Hy vọng chiếc ghe rời đồn trước khi cơn mưa" vì trời mưa rất trở ngại cho việc yểm trợ. Chơt có tiếng quân bạn vào tần số FM :
"Chó lửa thằng em tôi sắp lên thác (rời đồn) đó bạn"
"Chó lửa nhận rõ" tôi trả lờị

"Bravo đây Alpha", tôi gọi số 2
"Alpha tôi nghe", Bravo trả lờị
" Bravo còn bao nhiêu xăng", tôi hỏi
" Khoảng 900lbs".....
"OK, tôi còn khoảng 800"
Tôi xin phép được giải thích vì sao tôi quan tâm về lượng xăng. Chúng tôi phải lưu ý đến số lượng xăng đẻ quyết định có nên về đổ xăng trước khi yểm trợ vì trong khi yểm trợ không thể bỏ ngang để về đổ xăng. Nhất là trong phi vụ "Yểm trợ tắc rán" nầy tôi cần phải chú ý hơn vì "tắc rán" không chạy nhanh như những giang đỉnh hay tuần duyên của Hải quân VN.

"Chó lửa, thằng em tôi lên thác, nhờ bạn giúp giùm" quân bạn thông báo...
"OK, tôi đã thấy thằng em bạn rồi" tôi trả lời...
Khi chiếc ghe rời đồn bắt đầu quẹo trái trên con kinh nhỏ để di chuyển ra sông lớn, chúng tôi (gunships) đã vào trục đánh từ Tây sang Đông hai bên bờ kinh. Chiếc ghe an toàn ra đến sông lớn và bắt đầu chạy về hướng Nam...
"Bravo đây Alpha", tôi gọi số 2
"Nói đi" số 2 trả lời...
"Hãy để dành đạn và rockets vì đường còn dài"
"Nghe rõ"...

Chúng tôi tiếp tục bay theo yểm trợ chiếc ghe trên sông lớn, và không thấy dấu hiệu nào của anh tài công cho biết đang bị VC tấn công... Tôi thầm nghĩ: "Chắc chắn thoát rồi, bọn VC không cách chi bắn theo ghe đươc vì khoảng cách từ bờ sông đến ghe khá xa"... Nhưng dòng cảm nghĩ của tôi bị chận lại, tôi thấy hàng đoàn ghe rời bờ sông chạy đuổi theo chiếc ghe mà chúng tôi đang yểm trợ và anh tài công đã "phất cờ VNCH" dấu hiệu cho chúng tôi biết anh đang bị VC rượt đuổi và tấn công. Đồng thời lúc đó, VC tại xóm nhà bắt đầu pháo kích theo chiếc ghe, đạn pháo kích nổ trên dòng sông tạo thành những vũng nước đen trên sông. Các bạn đã từng xem phim "Cao bồi và mọi da đỏ" chắc đã từng thấy cảnh một đám da đỏ rượt một anh cao bồi đi lạc ra sao thì cảnh rượt thuyền cũng giống như vậỵ

"Bravo, Alpha",
"Nói đi..."
"Bay vòng tròn yểm trợ, dùng minigun bắn chận đoàn ghe"...
"Bravo nghe rõ"...
Chúng tôi bay vòng tròn, phải rồi trái, để xử dụng tối đa hai cây súng miniguns... nhờ trời nên hai súng không trở ngại, và chúng tôi đã làm chậm bước tiến của bọn VC bởi những làn đạn từ các họng súng miniguns. Đạn pháo kích vẫn pháo theo ghe, và tôi thấy tên VC chạy tới chạy lui để điều chỉnh súng cho chính xác. Chúng tôi dùng rockets để tiêu diệt các khẩu pháo 61 ly hoặc 81 ly... các anh cơ phi + xạ thủ thì dùng miniguns để bắn chìm các ghe của bọn VC. Vừa yểm trợ chiếc ghe vừa cầu nguyện cho chiếc ghe đừng "chết máy"... Nếu ghe ngừng chạy thì anh tài công can đảm kia sẽ không làm tròn trách nhiệm cao cả của người lính VNCH.

Đoàn ghe VC truy đuổi bị bắn chìm rất nhiều, nên sau một hồi theo đuổi, họ tách rời và chạy vào hai bờ sông. Chiếc ghe chở xác tiếp tục chạy và anh tài công không còn "phất cờ" nữa, dấu hiệu an toàn... chúng tôi mọi người nhìn nhau không biết nói câu gì... nỗi bàng hoàng vẫn còn in trên nét mặt của từng anh em... Chúng tôi tiếp tục yểm trợ chiếc ghe cho đến khi vào tận đồn phía Nam, nơi đó đã có "Hồng Điểu" danh hiệu trực thăng tải thương đón chờ.

"Hồng Điểu đây Xà Vương" tôi gọi
"Xà Vương, Hồng điểu tôi nghe"...
" Nhờ Hồng Điểu chuyển lời đến anh tài công ,chúng tôi Xà Vương, rất mến phục sự can đảm và tình yêu thương đồng đội của anh. Hy vọng sẽ gặp anh ta trong một ngày gần đây"...
"OK, Hồng Điểu sẽ chuyển cho bạn. Phi vụ xong, chúc các bạn về bình an"...
"Hồng điểu cũng vậy... à... Chúc mừng năm mới..."

Chúng tôi ghé đổ xăng tại phi trường Vị Thanh, trời đã về chiều... những hạt nắng thừa vẫn còn đọng lạị trên đường bay . Nhìn xa xa thấy những em bé trong bộ đồ mới chạy đùa tung tăng vui Xuân thật vô tư... Rời phi trường Vị Thanh, tôi gọi Paddy báo cáo phi vụ và lộ trình về Cần Thơ, và Paddy hỏi:

"Đi bay ngày Tết có vui lắm không bạn?" Họ (Paddy) ở căn cứ thì làm sao thấy những sự việc đã xảy ra... Tôi trả lời :
"Cũng thường thôi, một ngày như mọi ngày"...

Đưa cần lái cho anh hoa tiêu phó, tôi vội móc bao thuốc "Con Mèo đen" quà lì xì của ngài Quận Trưởng mời anh em... Qua làn thuốc thơm, tôi ôn lại phi vụ vừa qua... và thầm nói cho riêng mình: "CHỈ VÙNG IV CHIẾN THUẬT MỚI CÓ GUNSHIPS YỂM TRỢ GHE XUỒNG MÀ THÔI"...

HUỲNH VĂN CHỪNG

Trích từ trang web Cánh Thép
http://www.canhthep.com

Friday, October 1, 2010

CỨU NGƯỜI - NGƯỜI CỨU TA



Cứu người - NGƯỜI cứu ta

Tháng sáu là tháng mà Quân lực VNCH tổ chức ngày kỷ niệm "Quân Lực" hàng năm, đã giúp tôi nhớ lại lần tôi bị bắn rớt gần chi khu Phụng Hiệp,tỉnh Cần Thơ, Vùng IV Chiến Thuật trong một phi vụ tải thương đúng vào ngày 19 tháng 6.

Chúng tôi một số hoa tiêu trực thăng tốt nghiệp tại Hoa kỳ vào tháng 10 năm 1970, về Việt Nam thì tôi được phục vụ Phi đoàn 211, một phi đoàn trực thăng kỳ cựu nhất của ngành trực thăng Việt Nam. Sau khi trình diện phi đoàn 211 tại phi trường Trà Nóc, Cần Thơ, chúng tôi được đưa lên căn cứ Long Bình của Hoa Kỳ để huấn luyện thành những hoa tiêu chính (Pilot). Sau thời gian bay thực tập với Hoa Kỳ với những phi vụ liên lạc, hành quân khắp vùng III Chiến Thuật, chúng tôi khăn gói trở về phi đoàn 211 với chứng chỉ Pilot. Thời gian bay bổng tại Phi đoàn 211, vì là phi đoàn kỳ cựu trực thăng, chúng tôi vẫn là những hoa tiêu phó mặc dầu giấy tờ là hoa tiêu chính. Ban ngày là sĩ quan trực phi đoàn vì là hoa tiêu phó, đêm đến thì đi quay máy vì là hoa tiêu chính... Rồi thời gian trôi qua rất nhanh, tôi bay chung với các hoa tiêu chính già dặn "tay nghề", tôi học hỏi rất nhiều từ các anh ấy, và tôi cũng chứng tỏ với họ tôi là hoa tiêu phó đầy "kinh nghiệm" nên dần dần tôi được các anh chú ý, ưa thích, và tin tưởng nên được đi bay rất nhiều. Vì được bay bổng nhiều nên tôi đã học hỏi "tay nghề" rất nhanh và chính "nó" đã giúp tôi có được sự bình tĩnh trong các phi vụ tải thương sau nầy. Hầu hết các anh hoa tiêu kỳ cựu phi đoàn 211 được huấn luyện thành những IP (instructor pilots) khi phi đoàn 211 đảm nhận huấn luyện các khóa bay trực thăng tại Sư đoàn IV Không Quân.

Vào những năm 1971-72, ngành trực thăng đã dần dần thay thế quân đội Hoa kỳ trong những phi vụ yểm trợ quân bạn từ đổ quân, tiếp tế, tải thương. Không Đoàn 84 Chiến Thuật ngoài những phi vụ kể trên, còn phải tiếp nhận thêm nhiều phi vụ tải thương. Do đó Không Đoàn đã biệt phái Đ/U Quới , phi đoàn 211, sĩ quan liên lạc tải thương, và làm việc với phi đội tải thương Hoa Kỳ đóng tại phi trường Navy trong căn cứ Hải quân Hoa Kỳ, Cần Thơ. Các hoa tiêu thì từ các phi đoàn 211, 217, 225 và 227 biệt phái sang đi bay chung với phi hành đoàn Hoa Kỳ. Có lẽ vì tôi giỏi Anh văn hay là lúc đi bay thực tập tại Long Bình được các "trưởng phi cơ Hoa Kỳ" khen giỏi và không bị trở ngại trong thời gian huấn luyện nên tôi lại "được" gởi đi biệt phái sang bay tải thương (Dustoff). Thú thật tôi không thích bay tải thương vì tàu không có vũ khí để tự vệ, chỉ có dấu thập đỏ "Hồng thập tự" làm tấm bình phong đỡ đạn mà thôi. Khi huấn luyện tại trường bay, tôi tình nguyện theo học "gunship" vì tôi chủ trương "ăn thua đủ" với quân thù, chúng bắn tôi thì tôi "chơi" lại bằng rockets, miniguns...

Trong khi bay tải thương, tôi bay với hoa tiêu Hoa Kỳ ban đêm và hoa tiêu Việt Nam trong những phi vụ ban ngày vì lúc đó hoa tiêu Việt Nam không có mấy ai bay đêm ngoài Đ/U Quới. Tôi còn nhớ trong một phi vụ đêm, bay chung với Đ/U Quới bốc thương binh tại một cái đồn thuộc quận Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho rất "hot" nên chúng tôi đã phải nhờ đến trực thăng võ trang của Navy Hoa Kỳ "Seawolfs" yểm trợ và chúng tôi đã hoàn tất nhiệm vụ thật hoàn hảo. Những phi vụ tải thương rất nguy hiểm nhưng cũng có những cái thú như là: mình "liều mạng" để cứu sống con người trong khi người lại tìm cách giết nhau không một lần xót thương... thật mâu thuẫn quá!!!!! Cái thú khác nữa của những phi vụ tải thương là "chưi lộn" với con cháu bác Hồ trên tần số FM vì bọn chúng thường vào tần sô để phá phách hay "hù dọa" chúng tôi, và cái khổ nhât là giải nghĩa cho các anh bạn Hoa Kỳ được hiểu về những "trận" chửi lộn nầy.

Ngày 19 tháng 6, ngày Quân Lực , tôi và Th/U Chánh (phi đoàn 225) trực ngày. Danh hiệu "Kim Cương" Charlie. Buổi sáng chúng tôi làm những phi vụ tải thương từ Cà Mau, Năm Căn, Thới Bình, Vị Thanh và đến trưa chúng tôi trở về Cần Thơ ăn cơm. Trên đường về Cần Thơ, chúng tôi nhận phi vụ tải thương tọa độ gần quận Phụng Hiêp từ trung tâm Hành Quân Tải thương đóng tại phi trường Navy. Tôi xin phép được nói thêm một chút về "Trung Tâm Tải Thương" nầy để các bạn được rõ.

Trung Tâm Tải thương do Hoa Kỳ phụ trách, họ nhận những phi vụ từ Tỉnh, Quận do các cố vấn Hoa Kỳ yêu cầu, rồi chuyển những phi vụ nầy đến chúng tội. Nếu phi vụ "hot" phải cần "gunships" yểm trợ , thì họ báo cho chúng tôi biết khi nào đã có "guns" sẵn sàng thì chúng tôi vào vùng tải thương. Phi vụ tải thương nầy, chúng tôi liên lạc với "Trung Tấm tải thương" để tìm hiểu thêm về tình trạng của thương bệnh binh nặng nhẹ ra sao, và tình hình tại bãi bốc. "Trung Tâm" cho biết :
- Bãi đáp an toàn, thương binh bị thương chân và đầu.

Anh Chánh và tôi nhìn nhau không biết có nên tin "bãi đáp an toàn" không? Vì theo kinh nghiệm của chúng tôi thì thông thường bốc thương binh vùng Phụng Hiệp đều cần "gunship" yểm trợ vì bọn Việt Cộng rất "hỗn", cứ nghe tiếng trực thăng là tác xạ nhất là chúng biết trực thăng tải thương không mang vũ khí để tự vệ. Sau khi chúng tôi trao đổi ý kiến cho nhau, chúng tôi quyết định xuống bốc thương binh rồi về Cần Thơ ăn cơm và nghỉ trưa vì tọa độ bãi bốc gần Cần Thơ. Chúng tôi thông báo với "Trung Tâm Tải Thương" về quyết định của chúng tôi, thông báo Paddy tọa độ tải thương và tôi bắt đầu liên lạc với quân bạn :

"Thành Đô (danh hiệu tại đồn, tôi không nhớ rõ lắm) đây Charlie."
"Charlie. Thành Đô nghe bạn 5/5, có gì nói đi bạn "
"Charlie chim sắt chữ thập đỏ đến bốc mấy chai "wisky" (thương binh) cho biết tình hình nơi bạn ở".
"An toàn đó bạn". Chợt chúng tôi nghe:" Chim sắt đi chỗ khác chơi, xuống bắn bỏ mẹ". Chúng tôi biết bọn Việt Cộng đã vào tần số nên tôi gọi :
"Thành Đô bọn Việt Cộng vào số nhà của bạn để tôi gọi "chó lửa" (gunships) đến yểm trợ đó bạn".
"Charlie mấy con "chuột" (Việt Cộng) vào số nhà tôi phá rối đó bạn. Yên chí bãi đáp an toàn. Lên một nấc để liên lạc đi bạn". Một nấc là một số, thí dụ tần số 42.50 thì lên một nấc là 43.50.
"Thành Đô đây Charlie nghe rõ trả lời".
"Charlie Thành Đô tôi nghe 5/5".
"Thành Đô bạn cho biết "chuột" ở hướng nào của bạn, và hướng nào vào thì an toàn".
"Charlie "chuột" ở hướng Tây của tôi, bạn vào hướng Đông có mấy đứa em tôi đang an toàn cho bạn".
"Đ.M. xuống tao bắn rớt" bọn Việt Cộng lại vào tần số.

Anh Chánh và tôi lại nhìn nhau để hội ý, chúng tôi biết bọn Việt Cộng thích chơi trò "cút bắt" mình có đổi tần số bao nhiêu lần chúng cũng lọt vào được. Đã đến giờ cơm, bụng đói cào....Chánh và tôi quyết định xuống bốc mà không cần "chó lửa" yểm trợ, không để bọn Việt Cộng "hù" chúng tôi mãi. Tôi gọi máy:
"Thành Đô chuẩn bị mấy chai "wisky", chúng tôi xuống bốc đó bạn"

Anh Chánh bay tôi follow theo cần lái, tôi "lock" dây an toàn. Anh Chánh làm môt vòng "overhead" giảm cao độ từ hướng Đông bay vào, cao độ khoảng 50 feet trên đầu các ngọn cây, tốc độ khoảng 80-100 knots thì tôi nghe đủ loại súng bắn vào phi cơ "bựt bựt..." tôi biêt thân tàu trúng đạn. Khi cách đồn khoảng 10 thước, Chánh giảm tốc độ để vào đáp thì phi cơ bắt đầu quay vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, cắt tay ga tàu xàng ngang và tôi nghe tiếng cánh quạt chính chém vào thân cây "rắc...rắc". Tàu rớt ngay trên giao thông hào bên trong đồn, thật may mắn tàu rớt trong đồn chứ nếu ngoài đồn thì chắc chúng tôi tan xác vì mìn và lựu đạn gắn xung quanh đồn. Phi hành đoàn vô sự, xin cám ơn anh Chánh với "tay nghề" điêu luyện đã đưa con tàu không cánh quạt đuôi đáp an toàn. Tôi gọi Paddy cho biết tọa độ chúng tôi bị bắn rớt rôi tắt máy chờ tàu "rescue" từ Trà Nóc,Cần Thơ đến bốc về.

Trong khi chờ tàu "rescue" cất cánh từ phi trường Trà Nóc, anh y tá Tiến mà chúng tôi thường gọi "bác sĩ Tiến" đã vào nước biển cũng như băng bó vết thương cho các thương bệnh binh. Chúng tôi ngồi chờ tại đồn, quên cả cơn đói, từ 1 giờ trưa cho đến 4 giờ chiều mới được chiếc tải thương khác đến tiếp cứu do T/U Ninh (217) và hoa tiêu Hoa kỳ. Chính tôi đã hướng dẫn hai chiếc Cobras bắn phá, yểm trợ chiếc tải thương nầy bay từ Tây sang Đông thay vì Đông sang Tây theo lời quân bạn hướng dẫn.

Chiếc phi cơ tải thương đưa chúng tôi vê phi trường Trà Nóc, xin cám ơn T/U Ninh và phi hành đoàn. Sau nầy tôi được biết chiếc tàu "rescue" đã lấy lộn tọa độ (cung cấp bởi Paddy) đi Cà Mau - Năm Căn thay vì Phụng Hiệp, sự sai biệt khoảng 200 km.

Sau khi tái khám tại bệnh viện Sư đoàn, tôi phải làm báo cáo trình lên Sư Đoàn về phi vụ tản thương nầy. Ngày 19 tháng 6 năm 197X rơi vào ngày Chủ Nhật, thông thường nếu không đi bay thì tôi đi lễ nhà thờ cầu nguyện ơn trên ban bình an cho quê hương, gia đình, bạn bè và tôi. Ngồi viết báo cáo... tôi thầm nghĩ cho riêng mình: Ngày Chủ Nhật đi bay Cứu người, bị bắn rớt vô sự phải chăng NGƯỜI (Chúa) đã cứu ta?

HUỲNH VĂN CHỪNG
Đại đội 64/ Khoá 6/68 Thủ Đức


---
Trích từ trang web Cánh Thép
http://www.canhthep.com

MÙA XUÂN KHÔNG ĐẾN



Mùa Xuân Không Đến

Lời dẫn nhập:

Sau khi thất bại trong trận chiến " Mùa hè đỏ lửa 72", bọn Cộng Sản (CS) vẫn
không chừa bỏ mộng xâm chiếm miền Nam Việt Nam . Chúng (CS) đã được khối CS viện
trợ thêm nhiều vũ khí tối tân mà trong đó hoá tiễn tầm nhiệt SA-7 là "hung thần"
bắn hạ phi cơ của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Các phi cơ cánh quạt, bán phản
lực, và phản lực đều bị loại hoả tiễn nầy "sát hại". Để chống lại loại hoả tiễn
nầy, các phi cơ đã trang bị trái sáng (flare) thả khỏi phi cơ khi vào vùng có
nhiều hoả tiễn SA-7. Trực thăng UH-1 thì được trang bị hệ thống toả nhiệt gắn
vào phía sau ống khói (exhaust) phun hơi nóng lên không và sau đó được cánh quạt
chính (main rotor) thổi tản mác khắp nơi đã giúp cho trực thăng bớt đi tổn hại
về SA-7. Riêng trực thăng Chinook có hai ống thoát nhiệt gắn hai bên phía trên
thân tàu thì không có hệ thống toả nhiệt như UH-1, và đó là nhược điểm mà bọn CS
đã tìm biết. Khu tứ giác Phước Xuyên, Mộc Hoá, Ấp Bắc, và Mỹ Phước Tây là nơi bọn CS trang bị rất nhiều hoả tiễn SA-7. Mặc dù đã được hộ tống bởi trực thăng võ trang (gunships)... nhưng vì Chinook bay nhanh hơn nên gunships cố gắng "bơi" theo để yểm trợ thật vất vả... Sau khi chiếc Chinook do cố Tr/T Trung bị bắn rớt, gunships hộ tống Chinook thay vì bay trước dẫn đường thì nay Chinook bay trước và gunships bay phía sau quan sát và hộ tống. Bài viết nầy xin gởi tặng anh em phi đoàn 249 Mãnh Long nói chung, và gia đình phi hành đoàn cố Đ/U Đông nói riêng.


Tháng hai dương lịch, khí hậu mát mẻ báo hiệu mùa Xuân (Tết) đến. Quân dân Vùng 4 Chiến Thuật chuẩn bị đón Xuân, các thửa ruộng đã cày cấy xong, những trái dưa hấu đã được hái và chuyên chở ra chợ bán Tết. Không khí mùa Tết đã nhuộm trên vùng trời miền Tây (vùng 4 Chiến Thuật)... nhưng đối với các chiến sĩ thì mùa Xuân nầy không biết bọn CS sẽ làm gì... sẽ có những thủ đoạn "gian manh" nào???? Riêng tôi độc thân vui tính nên ngày Tết cũng giống như mọi ngày... sáng vác nón bay áo giáp ra đi và buổi chiều đậu tàu vào ụ thì mới biết mình đã qua được một ngày trong chiến tranh.

Ngày 9/2/1975 (30 tết), tôi bay phi vụ gunships hộ tống Chinook( Mãnh Long), trình diện tại phi trường Cao Lãnh. Buổi sáng trời thật tốt, khí hậu lành lạnh... báo hiệu ngày Tết gần kề, trên đường bay tôi có nghe Mãnh Long liên lạc với Paddy báo đáp phi trường Cao Lãnh. Chúng tôi (gunships) vào đáp phi trường Cao Lãnh, vào nơi đổ xăng thì thấy một chiếc Chinook cũng đang đổ xăng. Sau khi đổ xăng xong, Chinook và gunships vào đậu bên lề phi đạo tắt máy. Môt chiếc xe jeep chạy đến đón phi hành đoàn Chinook và chúng tôi (gunships) ngồi ở tàu chờ. Xin phép được trình bày một chút về phương thức hộ tống/yểm trợ Chinook. Thông thường các đơn vị bộ binh chỉ thuyết trình và liên lạc với phi hành đoàn Chinook, và sau đó phi hành đoàn Chinook sẽ thông báo với gunships những gì họ cần chúng tôi (gunships) hộ tống/yểm trợ.

Một lúc sau, phi hành đoàn Chinook đến gặp chúng tôi và cho biết nhiệm vụ hôm nay là câu hai khẩu pháo binh 105 ly ,và đạn dược vào căn cứ hoả lực Bình Thạnh Thôn (BTT). Chiếc Chinook nầy Tr/U Quang (1) là Trưởng phi cơ (TPC), danh hiệu Mãnh Long 2(ML2), và tôi được biết chiếc Mãnh Long 1 sẽ lên sau vì tàu hư. Tr/U Quang và tôi là bạn cùng khoá trực thăng tại Ft. Wolters, TX nên chúng tôi rất vui mừng gặp lại nhau. Căn cứ hoả lực BTT nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Mộc Hóa (Kiến Tường) là căn cứ dùng để yểm trợ pháo binh cho những trận đánh gần biên giới Miên .

Chúng tôi (gunships) đã biết khu tứ giác nầy, bọn CS có thể núp bắn bất cứ giờ phút nào... Chinook tiếp tế vào căn cứ hoả lực là nơi tương đối an toàn... nhưng vì không được thuyết trình tình hình chung quanh căn cứ nên tôi yêu cầu ML2 cho tôi tần số FM của đơn vị bạn khi cần tôi sẽ liên lạc. Tôi liên lạc với ML2 và nói: "chuyến đầu tôi (gun1) bay trước dẫn đường, kế là ML2, và sau đó gun 2. Sau khi thả hàng xong, ML2 lấy cao độ theo đường bay cũ về, gunships bay dưới bụng bên trái để yểm trợ". Chúng tôi bay cao độ khoảng 1000 bộ, trên đưòng bay vào căn cứ BTT, chúng tôi để ý đến hàng cây rậm nằm bên tay phải vì nơi đó bọn CS có thể ẩn núp tác xạ vào phi cơ. Sau chuyến tiếp tế đầu tiên, ML2 bay trước theo lộ trình cũ và gunships bay phía sau vừa quan sát cảnh vật hai bên, và yểm trợ khi cần đến. ML2 và chúng tôi đã làm xong 6 chuyến tiếp tế.

Trên đường từ BTT về Cao Lãnh , chúng tôi được biết Mãnh Long 1 (ML1) sau khi sửa tàu xong đã đáp phi trường Cao Lãnh. Chúng tôi đáp phi trường Cao Lãnh vào khoảng 11 hay 12 giờ trưa, tàu của tôi còn khoảng 400lbs xăng nên tôi đề nghị với ML2 đổ xăng (refuel) rồi làm tiếp. Tôi cũng được biết Tr/U Đông là TPC chiếc ML1 và anh là lead trong phi vụ nầy . Sau khi nghe tôi đề nghị, ML1 vội trả lời:" Xà Vương làm xong chuyến nầy trở về đổ xăng, ăn cơm, nghỉ trưa rồi làm tiếp". Thú thật khi nghe ML1 đề nghị chuyên nầy tôi không vừa lòng lắm... vì tôi biết từ phi trường Cao Lãnh vào căn cứ BTT trở ra cũng phải tiêu thụ ít nhất 200lbs xăng... nếu có chuyện gì xảy ra thì chúng tôi (gunships) không đủ xăng để yểm trợ. Tôi phân vân nghĩ ngợi... nhưng rồi thầm nhủ cho riêng mình "Đi vô đi ra đã 6 chuyến rồi, an toàn, chắc không có chuyện gì xảy ra đâu... mình làm việc cho Mãnh Long thì để Mãnh Long quyết định". Tôi đồng ý làm chuyến thứ 7 nầy xong rồi tính sau.

Hai chiếc Mãnh Long cất cánh trực chỉ căn cứ BTT, hai gunships đuổi theo như hình với bóng. Đến BTT, gunships bay vòng tròn trên căn cứ trong khi chờ chiếc Chinook số 1 thả hàng lấy cao độ, và tuần tự chiếc số 2 thả hàng đang lấy cao độ khoảng 300 bộ tôi bay thấp phía trái của chiếc số 2 và tôi lấy cao độ theo chiếc số 2... tôi chợt thấy ống khói (exhaust) bên trái của chiếc số 2 đang cháy tôi bèn liên lạc:
"Chiếc số 2 máy bên trái cháy, đáp khẩn cấp"
Chiêc số 2 vẫn tiếp tục lấy cao độ bay vào khoảng đất trống để hạ cánh, tôi đeo theo bên cánh trái... tàu xuống cao độ khoảng 100-150 bộ giảm tốc độ thì bị nổ tung trước mắt tôi... Tôi vừa bay vừa gọi trên tần số guard "Mayday, Mayday" tiếng Việt lẫn tiếng Anh và cho biết toạ độ chiếc Chinook bị nạn. Trong khi đó chiêc Chinook số 1 đang bay thấp là đà định vào tiếp cứu, tôi nói anh ra khỏi vùng để gunships yểm trợ.

Chiếc gun2 đang bắn rockets vào hàng cây, gun1 dùng miniguns bắn xung quanh để yểm trợ. Tôi xuống thấp khoảng 50 bộ để quan sát và tìm xem có ai còn sống sót không? Quan sát chung quanh chiếc tàu các thi thể nằm rải rác... không thấy có dấu hiệu sống sót - Tàu tôi lúc đó còn khoảng 200lbs xăng không thể bao vùng lâu được... tôi kêu cứu trên tần số để có phi cơ nào bay gần đó đến bao vùng (cover) để tôi về phi trường Cao Lãnh đổ xăng (refuel) rồi lên vùng tiếp. Rất may có gunships phi đoàn 255 đang làm việc vùng Mộc Hoá đã nghe tiếng tôi cầu cứu trên tần số đến thay (release) tôi về đổ xăng. Đó là phi hành đoàn XaVương11 (2) và bạn NVL (wingman), anh NVL đã gởi email cho ban togia9 trong bài Phước Xuyên với chi tiết không được chính xác .

Chúng tôi (gunships) rời vùng về phi trường Cao Lãnh cùng với chiếc Chinook số 1 (3). Trên đường về Cao Lãnh, gun2 báo cho tôi biết tàu bị "tail rotor chip detector" cánh quạt đuôi có mạc sắt cần phải check (kiểm soát) lại trước khi cất cánh. Đổ xăng xong tôi cất cánh, báo cáo gun2 bị hư, tôi sẽ đến nơi Mãnh Long rớt một mình để tiếp tục phi vụ tìm kiếm và bốc xác phi hành đoàn thì được lịnh từ phòng Hành Quân Chiến Cuộc (qua Paddy) đáp trở lại phi trường Cao Lãnh nằm chờ vì trên vùng đã có gunships và tàu rescue.

Sau khi đáp lại phi trường Cao Lãnh, tôi được biết qua Tr/U Quang, chiếc số 1 là Mảnh Long 2, và chiếc số 2 là Mãnh Long 1 vì Đông có nói với Quang hãy đi trước dẫn đường vì Quang đã quen vùng . Vì vậy khi tôi báo chiếc số 2 bị cháy thì ML2 đã hạ cao độ xuống đất vì anh tưởng tôi báo ML2 bị cháy.

Chúng tôi trở về phi trường Cần Thơ với niềm thương tiếc về phi hành đoàn Mãnh Long 1 đã hy sinh trên chiến trường BTT. Mùa Xuân đã trở về với chúng ta... nhưng "Mùa Xuân Không Đến" với gia đình cố Đ/U Đông và phi hành đoàn Mãnh Long 1.

TB: Câu chuyện xảy ra đã hơn 30 năm, chi tiết có thể không được đầy đủ. Xin quý NT và các bạn bổ túc cho. Xin cám ơn.

HUỲNH VĂN CHỪNG
Đại Đội 64/ Khoá 6/68

(1) Tr/U Quang hiện cư ngụ tại Houston, TX
(2) XaVương 11 hiện cư ngụ tại Savannah, GA
(3) Mãnh Long 2

Trích trang web Cánh Thép
http://www.canhthep.com