QUÂN PHỤC ĐẠI LỄ CỦA THỦ ĐỨC

QUÂN PHỤC ĐẠI LỄ CỦA THỦ ĐỨC

HỊCH TRUYỀN

HỊCH TRUYỀN

THÁNG TƯ ÔM HẬN

THÁNG TƯ ÔM HẬN
Thơ VŨ UYÊN GIANG - phổ nhạc Lmst

Friday, November 25, 2011

Hình ảnh Khóa 6/68 Colorado


Khóa 6/68 gặp gỡ nhau
Hình chụp tại tư gia của anh chị Nguyễn Nam ở Aurora, Colorado hôm Thanksgiving 2011:
Từ trái: vợ chồng Nguyễn Nam, vo chồng Trần Hữu Tánh và vợ chồng Nguyễn Trát

Monday, November 21, 2011

Hồ Trọng Anh


Hồ Trọng Anh ngày nay tại Sausalito, California

Hồ Trọng Anh Đại đội 63


Hồ Trọng Anh, Đại đội 63 Thủ Đức chụp hình chung với các Sĩ quan khóa sinh Pháo Binh ở Trường Pháo Binh Nha Trang

Tuesday, November 15, 2011

Khóa 6.68 gặp nhau ở Atlanta, Georgia



Ngày 10 tháng 11 năm 2011, vợ chồng Phan Văn Thường (Đại đội 63/ Khóa 6/68) từ North Carolina đã ghé thăm anh em Khóa 6/68 tại thành phố Atlanta, Georgia
từ trái: Phan Văn Thường, Nguyễn Văn Cảnh, Nguyễn Hữu Hào và Nguyễn Quang Vinh

Hình ảnh Khóa 6/68



Nguyễn Trát từ Colorado ghé thăm Litle Saigon
Khóa 6/68 gặp nhau
từ trái: Nguyễn Bình Trị, Nguyễn Đức Tiến, Nguyễn Trát và Trần Văn Thanh

Tình đầu




Huy Văn

Tôi càu nhàu với anh bạn:
- Hút thuốc lá là chuyện phiền toái lắm rồi, anh còn chọn cái hiệu Benson & Hedges khiến chuyện trở nên rối rắm hơn, làm ơn hút thuốc Marlboro hay Winston có được không?
Bạn tôi trả lời, chắc như đinh đóng cột:
- Ngày xưa tại sao anh cưới vợ anh? Cưới cô khác được không?
Tôi nghe bạn nói mà tưởng mình đang ngậm trái bồ hòn.
- Thôi được rồi, bây giờ anh ngồi đây kêu cà phê và một gói Marlboro cho tôi, tôi sẽ đi lại cái chợ ở góc đường mua thuốc cho anh.
Trước khi đi tôi còn cố vớt vát chút đỉnh:
- Mà nè, cả chục năm rồi, tôi với anh ngồi ở quán cà phê Loan có sao đâu, bỗng dưng hôm nay anh lại kéo tôi đến đây. Có đi tới đâu thì dân nghiện thuốc mhư bọn mình cũng chỉ cà phê vỉa hè mà thôi.
Tôi đi dọc theo hè phố về phía chợ, sáng thứ Bẩy chẳng có gì phải gấp gáp, cứ nhẩn nha mà đi. Từ xa tôi đã thấy dăm ba bà bán rau tươi ngồi trước cửa chợ, hình ảnh khá quen thuộc đối với người Việt ở thủ đô tỵ nạn, quen đến nỗi nếu thiếu mấy bà bán rau trước cửa thì ngôi chợ hình như mất hẳn sinh khí.
Tôi không dám vơ đũa cả nắm, nhưng có lần tôi tình cờ thấy một bà cụ bê rổ rau từ sau cốp xe Mercedes đời mới đến ngồi trước chợ bán. Cậu con, (tôi đoán vậy) thừa biết rằng nếu gặp buổi chợ đông, mua may bán đắt, bán hết rổ rau cũng không đủ tiền xăng cho chiếc Mercedes 8 máy uống xăng như rồng hút nước, chưa kể chuyện cái sân cỏ xanh tươi được cắt tỉa gọn gàng phía sau nhà bị bà cụ thuê người cuốc lên để trồng đủ thứ nào là rau đay, rau muống, hành, hẹ, bầu, bí,...
- Mua rau đi ông!
- Cà pháo mới hái, trong chợ không có đâu!
Vừa định bước vào chợ, tôi lặng người quay đầu nhìn lại một lần nữa cho rõ, có phải chị ngồi đó bên cạnh mớ rau mồng tơi hay không? Bao nhiêu năm rồi gương mặt, đôi mắt, sống mũi ấy đã chiếm một chỗ không nhỏ trong trái tim của tôi. Thời gian qua có làm đổi thay ít nhiều, vết chân chim lờ mờ nơi đuôi mắt, mái tóc điểm vài sợi bạc, làn da không còn mơn mởn như độ nào, thế nhưng cái nốt ruồi Cindy Crawford trên khóe miệng là một đặc điểm khiến tôi tin chắc rằng mình không thể nào lầm lẫn.
Mồ côi mẹ đã là một mất mát lớn cho tôi, ba tôi vì bận công việc làm ăn, lấn cấn với cái cảnh gà trống nuôi con cho nên ông gởi tôi vào nội trú ở Đà Lạt. Cuộc sống kỷ luật khắt khe của nội trú khiến tôi hụt hẫng, nỗi đau mất mẹ chưa nguôi đã kéo theo cái buồn vắng cha, ba tôi vẫn còn đó thế nhưng tôi cứ ngỡ mình mồ côi cha lẫn mẹ.
Tôi lớn lên trong lẻ loi đơn độc, cằn cỗi như một cây khô giữa sa mạc hoang vu, nắng cháy. Như một cây xương rồng, tất cả lá đều biến thành gai để chống lại sự thoát nước, tôi sống thu mình trong thế giới nhỏ bé của riêng tôi mà trong đó hai chữ gia đình nghe chừng như xa lạ không có thực ở ngoài đời.
Mùa Hè năm ấy, như thường lệ, tôi có 3 tháng để trở về sở trà của ba tôi ở làng An Mỹ, một cái làng nhỏ cách Bảo Lộc khoảng 15 cây số. Tôi bám riết theo ông như hình với bóng, bất kể nắng mưa hay sương gió, rong ruổi cùng ông trên chiếc xe hơi thùng cũ rích còn sót lại từ thời Pháp thuộc chạy xuyên qua những đồi trà bạt ngàn, xanh ngắt trải dài đến tận cuối chân trời.
Tôi thích chiếc xe thùng, khoái tiếng máy nổ như bò rống của nó. Chiếc xe như con ngựa chứng đang chạy ngon lành nó có thể hộc lên vài tiếng rồi nằm lì ra đó. Gặp những dịp may như vậy, tôi lăng xăng như gà mắc đẻ. Tôi muốn chứng tỏ cho ba tôi biết là tôi có thể giúp đỡ ông trong mọi công việc với chút hy vọng hão huyền là ông sẽ không gởi tôi vào nội trú nữa.
Một buổi chiều nọ, khi tôi và ba tôi từ đồn điền trở về, ông vui vẻ kể cho tôi nghe những khó khăn, nhọc nhằn khi phải chăm sóc một đồn điền, từ lúc cây trà còn là hột giống trên cây cho đến khi lá trà được xấy khô rồi... rồi... ông nín bặt.
Trước sân nhà tôi, bốn chiếc xe vận tải lớn, rải rác chung quanh kẻ đứng người ngồi có đến vài chục, tôi đọc được mấy chữ kẻ dọc theo thân xe: “Đoàn Cải Lương Mai Lan” . Tôi thắc mắc:
- Chuyện gì vậy ba?
Hình như ba tôi còn nóng lòng hơn tôi, ông đạp mạnh thắng, vội vàng tắt máy xe rồi đi thẳng vào nhà quên cả tôi và quên luôn việc phải đóng cửa xe. Khi tôi vào đến nhà đã thấy ba tôi đang ngồi nói chuyện với khách.
Ông khách nói năng nhỏ nhẹ, lịch sự và lúc nào trên môi cũng sẵn một nụ cười. Câu chuyện xoay quanh vấn đề xin cho đoàn hát được tạm trú trong nhà một thời gian chờ cho người về Sàigòn mua cơ phận thay thế cho một chiếc xe vận tải của đoàn hát bị hư. Sửa xe xong, đoàn sẽ lên đường lưu diễn ngay không dám làm phiền thêm nữa.
Ba tôi nhồi một ít thuốc vào cái ống píp, ông bật que diêm nhưng lại không mồi thuốc, thong thả hỏi:
- Đoàn hát có bao nhiêu người?
- Vào khoảng năm chục.
Ba tôi thả que diêm vào cái gạt tàn rồi chỉ vào kho chứa trà rộng mênh mông:
- Tưởng nhiều chứ vài chục thì chuyện cũng dễ, căn nhà đó chứa được hơn trăm người, chỉ sợ anh chị em nghệ sĩ chê là không được tươm tất.
Không để cho khách kịp có ý kiến, ông pha trò:
- Chỉ ở thôi, không có bao ăn đâu nghe!
Khách tươi cười:
- Xin cảm ơn ông nhiều, chúng tôi nào dám nghĩ đến cái chuyện đã được voi lại còn đòi thêm tiên.
Trước khi cáo từ trở ra sắp xếp chỗ cho đoàn hát, khách tặng ba tôi hai tấm vé hạng nhất của xuất hát tối hôm sau tại hội trường của làng.
- Chỉ là hình thức thôi, ông là khách danh dự của đoàn hát, lúc nào chúng tôi cũng dành sẵn hai ghế hạng nhất cho gia đình ông.
Lúc bắt tay tiễn khách, cha tôi nói thêm:
- Cũng xin lưu ý với ông dân số trong làng nếu tính luôn cả công nhân đồn điền chưa đến một nghìn, ông liệu có bao nhiêu người đi coi hát?
- Chúng tôi cũng biết chứ nhưng vì hoàn cảnh đẩy đưa, thực lòng mà nói nếu không trình diễn tuần sau cả đoàn hát sẽ lâm vào cảnh khó khăn, thôi thì chẳng thà bói rẻ còn hơn ngồi không.
- Ông hơi quá lời, nghệ sĩ có chỗ đứng của nghệ sĩ, lối so sánh của ông nghe không được ổn cho lắm.
Giọng nói của khách chừng như chùng xuống xen lẫn chút xót xa:
- Cám ơn ông, cũng là nghiệp dĩ mà thôi, người nghệ sĩ hát rong lấy gió sương làm nhà, rày đây mai đó làm bạn và sống nhờ vào sự thương yêu mến mộ của đồng bào, chúng tôi đâu dám nhận là mình có chỗ đứng riêng của mình.

Ngồi ở hàng ghế đầu nhưng tôi vẫn nghe rõ ràng những lời bàn tán xôn xao về cô đào trẻ đẹp Mai Lan thủ vai Triệu Tử Long.
- Mười tám tuổi mà đã là đào chánh.
- Nói bậy, tao vừa hỏi người bán vé lúc nãy, đúng hai mươi tuổi rồi.
- Nè, im đi cho người ta xem với.
Cả hội trường sống theo câu chuyện. Họ im lặng, nín thở khi Triệu Tử Long đơn thân độc mã vượt phá trùng vây, hò hét để khuyến khích khi thấy Triệu Tử Long máu nhuộm đỏ chiến bào quỵ một chân xuống đất, tay bồng ấu chúa tay chống trường thương, tình cảnh bi thương nhưng hào khí ngất trời.
Tôi không ngờ cải lương hay đến độ khiến tôi mê mẩn tâm thần, mê luôn đôi mắt vẽ xếch ngược lên trời của cô đào Mai Lan.
Đêm hát kế tôi khóc ngon lành khi cô đào Mai Lan trong vai Cúc Hoa ngồi bắt chí cho hai con bên ngôi mộ lúc nửa đêm về sáng. Tôi không nghĩ rằng mình đang coi cải lương bởi vì những nhân vật trên sân khấu diễn xuất thực quá, thực đến nỗi bao nhiêu nước mắt nhớ mẹ tích tụ suốt mấy năm nội trú được dịp tuôn tràn. Tôi khóc chán chê rồi mới giật mình dụi mắt nhìn quanh, thì ra không phải chỉ một mình tôi khóc, cô đào Mai Lan đã khiến cho nhiều người thương tâm, sụt sùi rơi lệ.
Suốt đêm hôm đó tôi mơ mơ màng màng trong giấc ngủ chập chờn.

Quen với nếp sống nội trú, tôi thức dậy sớm định đun cho ba tôi một ấm nước sôi, đang lui cui với mấy thanh củi. - Em nhỏ, chị muốn mượn à ...à..., em đang làm gì vậy?
Tôi nhìn lên, cô đào Mai Lan đứng sau lưng tôi tự lúc nào. Ngạc nhiên lẫn thích thú, vui mừng quá sức khiến tôi đâm ra vụng về, lúng túng nói không nên lời. Ở ngoài đời cô hoàn toàn khác hẳn trên sân khấu, không phải một Triệu Tử Long oai phong lẫm liệt vượt ngàn nguy biến đem ấu chúa về với Hán vương, cũng không phải bà mẹ Cúc Hoa đầy đau thương, khổ lụy của đêm hôm qua mà trước mặt tôi cô đào Mai Lan xinh đẹp, dịu dàng.
- Em chỉ muốn đun ấm nước sôi.
- Tội nghiệp chưa, nhìn em lóng cóng với mấy thanh củi là chị đã biết rồi, để chị giúp cho.
Chị vừa chất những thanh củi vào bếp vừa nhìn tôi với đôi mắt to tròn, đen láy, cái nhìn đầy trìu mến khiến tôi như ngộp thở, khi ngọn lửa đã cháy đều chị hỏi tôi:
- Em cần giúp gì nữa không?
- Dạ không.
Chị nhìn ra ngoài cửa ra chiều suy nghĩ, ngón tay trỏ để lên môi chống hờ vào chiếc mũi xinh xinh.
- Em có muốn ăn sáng với chị không?
Tôi nghe nhưng chưa kịp hiểu thì chị đã nói tiếp:
- Đợi chị một chút.
Chỉ một thoáng sau, chị trở lại với chiếc rổ trên tay trong khi tôi vẫn còn ngẩn ngơ như ốc mượn hồn.
- Chị em mình ăn sáng chung cho vui, có trứng gà ốp-la, bánh mì, chỉ tiếc là thiếu cà phê.
- Nhà có cà phê mà chị.
Bây giờ đến lượt chị lấn cấn, lọng cọng, chị loay hoay với chảo dầu, ấm nước. Tôi được ăn bánh mì cháy xém một góc, trứng ốp-la chín như luộc. Đôi má của chị ửng hồng không biết vì sức nóng của bếp lửa hay ngượng ngùng vì món ăn chị nấu. Chị nói với tôi mà như tự trách mình:
- Chị có biết nấu ăn bao giờ đâu. Tráng cái trứng cũng không xong, chị em mình coi bộ giống nhau quá.
Căn phòng bỗng dưng ấm cúng vô cùng, cái hàng rào vô hình xa lạ ngăn cách giữa tôi và chị không còn nữa. Chị khuấy ly sữa đặc, nhấp thử một chút, thêm tí cà phê.
- Vừa uống rồi đó em.
Tôi vụng về nhận ly sữa nơi tay chị. Hạnh phúc đến với tôi quá bất ngờ khiến tôi sợ nó tan biến đi lúc nào không biết. Tôi ăn uống chậm rãi như đang thưởng thức món ăn chị nấu. Thực ra tôi chỉ muốn kéo dài thời gian ở bên chị.
Tôi nhớ lại những bữa ăn trong nội trú, hai dãy bàn ăn dài thăm thẳm, muỗng, nỉa, ly, chén lạnh ngắt, lạnh như gương mặt ông giám thị đứng ở đầu phòng.
- Em đang nghĩ gì vậy? Uống đi kẻo sữa nguội hết.
Tôi bưng ly sữa lên, hỏi chị câu hỏi ngu ngơ chẳng đâu vào đâu:
- Lúc sáng chị hỏi em, chị muốn mượn cái gì?
- Thôi, không cần nữa đâu em.

Tối hôm sau, khi biết tin đoàn nghỉ hát một đêm, tôi lân la qua kho chứa trà, chỗ đoàn hát đang trú ngụ. Một người trong đoàn hỏi:
- Em tìm ai?
Tôi biết mặt mình đỏ như trái gấc, tôi mắc cở vì sợ người khác đọc được ý nghĩ của mình, đang lúng túng, ngượng ngùng tôi chợt thấy nhẹ nhõm, chị đi đến bên tôi:
- Cơm nước gì chưa?
- Dạ em ăn rồi.
Tôi nói láo ngon ơ.
- Ngồi đây chơi đợi chị mặc thêm chiếc áo ấm, lát nữa chị em mình đi dạo. Hôm nay rằm đó em có biết không?
Rằm hay mồng Một không phải là chuyện khiến tôi bận tâm.
- Khi nào đoàn hát sẽ lên đường vậy chị?
- Chờ sửa xe xong sẽ đi.
- Độ bao lâu nữa?
- Chị không rõ, chắc không lâu đâu.
Tôi biết rằng khi chiếc xe chưa sửa xong thì tôi vẫn còn có chị.
Trăng đã lên phía sau rừng, mặt trăng tròn tựa như một tấm gương ngà tỏa ánh sáng dịu dàng, lành lạnh lên khắp vườn trà, những lá trà xanh thẩm phơi mình dưới ánh trăng trong. Trăng sáng đến độ tôi có thể nhìn rõ bên kia quốc lộ những đồi trà nối tiếp nhau, chập chùng uốn lượn theo triền dốc như một tấm thảm nhung xanh loang loáng ánh trăng vàng.
Chị dẫn tôi đến nơi chiếc ghế đá trước sân ngồi ngắm sao trời. Bầu trời không một gợn mây trong đó vài vì sao lấp la lấp lánh, giữa không gian bao la tĩnh mịch chị thì thầm kể cho tôi nghe câu chuyện cổ tích của sao hôm và sao mai. Bất ngờ chị hỏi tôi:
- Em có biết mỗi vì sao là hiện thân của một người trên trái đất này không?
- Nếu sự thực là như vậy thì ngôi sao nào đứng một mình sẽ là của em.
- Đừng nói vậy, em không cô đơn đâu, em còn có cha, có gia đình, bạn bè, trong khi chị không cha, không mẹ được ông Bầu xin chị từ một viện mồ côi về làm con nuôi. Bao nhiêu năm rồi, cuộc sống của chị nổi trôi theo đoàn hát, buồn vui tùy thuộc vào cảm tình của khán giả ban cho. Đã nhiều lần chị cố hình dung gương mặt của cha mẹ chị nhưng đành chịu vì khi chị bắt đầu biết được có sự hiện diện của mình trên cõi đời này thì chị đã ở trong viện mồ côi. Hình ảnh của cha mẹ chị bây giờ vẫn còn mờ mịt trong cõi nhớ xa xăm.
Đưa tay vén mớ tóc lòa xòa trên trán, chị quay sang tôi:
- Em có lạnh không?
- Dạ có.
- Ngồi xích lại đây cho ấm.
Giọng nói của chị đầy xúc động:
- Em à, những tâm hồn cô đơn thường dễ hòa chung thành một.
Dưới ánh trăng vàng, đôi mắt của chị long lanh như những ánh sao, chớp tắt sau hàng lông mi dài, cong vút. Chị ca cho tôi nghe những bài vọng cổ buồn đến não ruột. Tôi mơ màng chìm vào giấc ngủ êm đềm mà trong đó giọng ca ngọt ngào truyền cảm của chị trầm xuống bên tai: - Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn cho nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu Hà.
Ngày đoàn hát lên đường, trước khi đi chị ôm chặt lấy tôi hôn nhẹ lên má. Tôi ngửi được mùi thơm thoang thoảng ấm nồng của da thịt từ người chị truyền sang.
- Gắng học giỏi nghe em trai cưng, có dịp lưu diễn ở Đà Lạt chị sẽ ghé thăm.
Tôi đứng yên trong lòng chị mặc cho cảm xúc dâng tràn.
Những năm sau đó, mỗi khi hè đến tôi không muốn trở lại sở trà của ba tôi mặc dù tôi rất nhớ ông. Mãi cho đến năm đậu xong tú tài, trước khi vào lính tôi mới trở về.
Nhìn ngôi nhà đứng một mình bơ vơ trong nắng chiều hiu quạnh, chiếc ghế đá trước sân mà đêm trăng năm nào tôi ngồi bên chị vẫn còn đó, cảnh cũ còn đây nhưng chị thì đã phiêu bạt phương nào, lẩn quẩn đâu đây, mơ hồ trong gió giọng nói ngọt ngào, êm ái của chị - em trai cưng- .
Tôi để cho nước mắt của mình chảy xuôi theo dĩ vãng. Không biết mình có lầm lẫn giữa sân khấu và cuộc đời, giữa tình chị em và tình yêu trai gái hay không? Nhưng tôi biết chắc rằng ở một nơi nào đó, tận cùng trong trái tim tôi hình bóng cô đào Mai Lan với đôi mắt đen lay láy, chiếc mũi xinh xinh và cái nốt ruồi trên khóe miệng, muôn đời không bao giờ phai lạt trong tôi.

Tôi ngồi bệt xuống đất bên cạnh mớ rau mồng tơi.
- Rau bán pao hay bó?
Hỏi để mà hỏi, tôi chỉ muốn nhìn chị thật gần, thật kỹ và hy vọng chị nhận ra tôi.
- Xin lỗi chị, tôi thấy chị hơi quen, ngày xưa chị ở đâu?
- Ở Việt Nam.
Tôi suýt cười thành tiếng khi nghĩ rằng chị nói đùa.
- Ở Việt Nam nhưng mà ở tỉnh nào?
- Sài-gòn, Cần Thơ, Vũng Tàu. Đúng rồi Vũng Tàu, nơi ấy có nhiều tàu vượt biên, mà ông nè chỗ ấy bọn hải tặc cũng nhiều lắm, coi chừng đó!
Đôi mắt của chị không thần, không sắc, hình như chị đang sống ở một thế giới khác chẳng dính líu gì đến cuộc đời này mà cũng chẳng thiết tha gì đến thực tại. Tôi hơi ngạc nhiên hỏi chị:
- Hải tặc ở Vũng Tàu?
- Ừ, bọn nó đông lắm.
- Chị có biết Bảo Lộc hay Đà Lạt không?
- Không, tôi đi từ Vũng Tàu mà.
- Chị nhận ra em không?
- Ông là ai?
Tôi hoàn toàn tuyệt vọng, người đàn bà trước mặt tôi không phải là chị. Tất cả chỉ là do cái trí nhớ tồi tệ của mình mà thôi. Người giống người cứ cho là vậy đi nhưng còn cái nốt ruồi trên khóe miệng thì sao? Trước khi bỏ đi tôi cố gắng xác định một lần cuối cùng.
- Chị Mai Lan, nhớ em không?
- Mai Lan, Mai Lan nào?
Khi nói xong hai chữ Mai Lan, gương mặt và đôi mắt của chị biểu lộ sự sợ hãi tột cùng, chị đưa hai tay ôm lấy đầu, nép sát vào chân tường. Cái lối phản ứng tự vệ của người yếu đuối, thế cô khi phải đương đầu với bạo lực.
Không còn gì phải suy nghĩ, tôi đã nhận lầm người. Tôi nhặt một bó rau, mở ví lấy tiền.
- Bao nhiêu một bó?
Bà bán rau ngồi bên cạnh nói vọng sang:
- Đưa cho cô ấy hai tờ một đồng, cô ấy không biết thối lại tiền đâu.
Lòng thảnh thơi, nhẹ nhõm, tôi ôm bó rau mồng tơi trở lại quán cà phê nơi anh bạn của tôi đang ngồi chờ gói thuốc. Đi được vài bước, tôi còn nghe loáng thoáng mấy bà bán rau trò chuyện với nhau, chỉ là chuyện vô thưởng vô phạt đối với họ.
- Coi bộ khật khùng như vậy chứ khi mà xuống sáu câu vọng cổ, Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà, tôi dám cá với bà, nếu đem so với cải lương chi bảo ở hải ngoại thì chưa biết mèo nào cắn mỉu nào.

HUY VĂN

Thursday, September 22, 2011

DINH ĐỘC LẬP, Tiếng súng cuối cùng - Huy Văn



Huy Văn

Tặng các bạn khoá 6/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.


Ba cái ly thủy tinh trong suốt, lưng lửng rượu vang, chạm nhau kêu lách cách, chúc mừng, chúc mừng ngày bọn mình tái ngộ, tôi nhìn qua khung cửa sổ, cảnh ba người đàn ông ngồi bệt dưới đất, bao quanh chai rượu và đĩa mồi, hình ảnh quá quen thuộc. Tôi đoán ngay, ngày xưa họ là lính trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Như để xác nhận sự suy đoán của tôi là đúng, người trẻ tuổi nhất trong bọn cất giọng :
- Hai ông có công nhận không ? Sư Đoàn 18 của bọn mình, lấy một chọi mười, đã đánh một trận oanh oanh liệt liệt. Tôi cho đó là trận đánh cuối cùng, trận đánh để đời của quân lực Viêt Nam Cộng Hoà.
Người bận chiếc áo jacket đen, tay nâng ly rượu ậm ự :
- Tôi biết chứ, chuyện rõ như ban ngày, mình khen mình thì có khác gì mẹ hát con khen hay. Hãy quên mình, tìm những cái hay, cái đẹp của người khác, chẳng hạn sáng ngày ba mươi tháng tư, khoảng sáu giờ sáng tại ngã tư Bảy Hiền, Biệt Kích 81 vẫn còn chiến đấu, tiêu diệt thêm mấy chiếc T54 của VC. Họ chỉ thực sự buông súng khi nghe lịnh kêu gọi đầu hàng trên đài phát thanh Saigon. Biệt kích 81 bị bức tử và họ đã chết trong hào hùng.
Người già nhất, với gương mặt đầy đặn, phúc hậu, cuốn mình trong chiếc áo nỉ dày cộm, uống thêm một hớp rượu rồi mới bắt đầu lên tiếng:
- Mấy anh bạn à, cũng sáng ngày ba mươi tháng tư, nếu tôi nhớ không lầm thì lực lượng Nhảy Dù đã bắn hạ thêm mấy chiếc T54 tại lăng Cha Cả, trước khi gạt lệ giã từ vũ khí, lột bỏ quân phục để đi vào lịch sử.
Ông ta ngừng nói, lần trong cái bị da nhỏ, lấy ra một ít thuốc rời nhồi vô cái tẩu. Ánh lửa của que diêm bùng sáng trong đêm, soi rõ mái tóc dài lấm tấm bạc. Trông ông ta giống như một nghệ sĩ hơn là lính.
Tôi biết rằng ba người nọ, mỗi người nhìn ngày lịch sử 30 tháng 4 qua góc cạnh của mình. Mỗi người nắm trong tay một mảnh puzzle, vẫn còn hàng trăm, hàng ngàn mảnh như vậy nữa đã thất lạc đâu đó. Nếu như mình có đủ, ráp lại, sẽ có được bức tranh toàn mỹ của ngày 30 tháng 4.
Tôi nghĩ đến mảnh puzzle trong tay của mình : Dinh Độc Lập với những tiếng súng cuối cùng.
*
Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức khi vừa 20 tuổi, ba lô lên vai tôi trình diện đơn vị mới : Tiểu khu Darlac.
Suốt thời gian thụ huấn trong quân trường, tôi chỉ mong cho mau đến ngày mãn khóa để xin đi nhảy dù. Thật lòng mà nói tôi hơi nhát gan, ngại gian khổ và cũng sợ chết thế nhưng bộ đồ rằn ri, thêm cái mũ nồi màu huyết dụ quá sức hấp dẫn đối với tôi. Lòng ham muốn vẻ đẹp bên ngoài đã thắng được con thỏ chết nhát trong tôi. Tôi lén mua sẵn bộ đồ dù, giấu tận đáy túi quân trang chỉ chờ ngày mãn khoá sẽ tình nguyện đi nhảy dù. Bộ đồ như một chứng tích của ước mơ, ước mơ không bao giờ thành sự thật vì khoá của tôi gần hai ngàn sinh viên sĩ quan, nhảy dù chỉ chọn 16 người. Tôi hơi thấp và nhỏ con, đó có thể là lý do tôi không được chọn.
Tôi đến Ban Mê Thuột trong bộ đồ trận của Bộ Binh với chiếc mũ lưỡi trai trên đầu. Ban Mê Thuột, thủ phủ của Cao nguyên, tôi vẫn thường nghe người ta nói với nhau rằng: thành phố gì mà Buồn Muôn Thuở, mùa nắng thì Bụi Mù Trời, mùa mưa thì Bùn Một Tấc.
Sau hơn 4 tuần chờ đợi ở Hội quán Sĩ Quan, tôi nhận được Sự vụ lệnh về Chi khu LOK.
Trung sĩ Bé phòng nhân viên của tiểu khu, đưa sự vụ lệnh cho tôi kèm theo câu nói đầy ái ngại :
- Tôi biết Chuẩn úy chẳng có gốc gác gì trong Quân đội.
- Sao Trung sĩ biết ?
- Chỗ của ông sắp đến là địa ngục trần gian, lưu đày biệt xứ, người có gốc ai mà đến đó.
- Chỗ đó có gì mà ghê vậy ?
- À ... nó là một quận lỵ nhỏ xíu với vài chục gia đình người Kinh, bị cô Lập hoàn toàn, không có đường bộ để vô ra. Con đường duy nhất để đến là trực thăng của cố vấn Mỹ. Nhưng đó không phải là chuyện quan trọng, người ta gọi là đi đày vì ở đó tuần nào cũng lãnh hàng chục trận pháo kích.
- Bộ không có hầm chống pháo kích hay sao ?
- Có chứ, với súng cối tám mươi hai ly thì không sao nhưng với sơn pháo thì thua, trời kêu ai nấy dạ.
- Sơn pháo là súng gì ?
- Tới nơi ông sẽ rõ, mà thôi tôi có chuyện này muốn nói riêng với Chuẩn úy.
- Chuyện gì vậy ?
Trung sĩ Bé kê miệng gần tai của tôi:
- Ông đừng trình diện đơn vị liền, ở Ban Mê Thuột chơi dăm mười ngày rồi đi, xuống điạ ngục thì chẳng có gì phải gấp gáp, không ai nỡ la mắng, ký củ khi Sĩ quan trình diện trễ. Xa mặt trời cũng có cái lợi đó Chuẩn úy.
Ngừng lại một chút như đợi cho tôi hiểu rõ vấn đề, sau đó Trung sĩ Bé thong thả tiếp:
- Ở Tiểu khu này người ta thường nói : “Mặt trời không bao giờ rọi tới LOK”, cứ từ từ mà đi. Chúc Chuẩn úy lên đường bình an.
*
Theo lời dặn của Trung sĩ Bé, tôi lặn một hơi mười ngày, sau đó mới tà tà theo trực thăng của cố vấn Mỹ đến đơn vị.
Trước mặt tôi là Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi đi dọc theo dãy nhà tôn vách ván, phòng nào cũng trống không, tôn lợp mái nhà tấm nào cũng vài chục lỗ thủng do miểng pháo kích. Ánh nắng mặt trời xuyên qua những lỗ thủng, chiếu xuống thành muôn ngàn sợi nắng vàng kẻ song song, khiến tôi hoa cả mắt. Nhìn quanh không một bóng người thêm vào sự im ắng của buổi trưa hè oi bức, khiến tôi có cảm tưởng là mình đang ở trong một vùng đất chết.
Tôi đi hết dãy nhà, vòng sang bên hông, dưới bóng mát của 2 gốc cây rừng một ông Chuẩn úy (100% là huynh trưởng của tôi) mặt mày đen xạm, râu ria xồm xoàm, tóc dài quá mang tai nằm đu đưa trên chiếc võng, tay cầm lon bia Mỹ, dưới đất thêm vài cái lon không nằm lăn lóc.
- Mới ra trường ?
Giọng nói nhừa nhựa đầy men bia, câu hỏi trống không nhưng tôi biết dành cho tôi, vì tôi là người duy nhất đứng trước mặt ông ta.
- Vâng, tôi mới ra trường. Xin hỏi Chuẩn úy, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở đâu ?
- Tôi là Hòa, Chuẩn úy Hòa. Hai giờ chiều rồi ai mà làm việc nữa, ngồi xuống đây làm vài lon, bia Mỹ mà không uống thì phí cả cuộc đời.
- Ở chốn khỉ ho cò gáy này làm sao Chuẩn úy có bia Mỹ để uống ?
- Cái bọn cố vấn Mỹ, khi có việc cần nhờ vả mình thì bọn nó lại vác qua cho vài thùng bia, gọi là có qua có lại ấy mà.
- Thế bọn mình làm gì ở đây ?
- Làm gì thì tôi cũng chả biết, lính thì cũng giống như thiên lôi, cấp trên sai đâu mình đánh đó. Ngày xưa đây là căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt với một tiểu đoàn Biệt Kích Biên Phòng trấn giữ. Khi Mỹ rút, họ bàn giao căn cứ này cho Tiểu khu, thế là Tiểu đoàn mình có công ăn việc làm, nằm cố thủ ở đây đợi pháo kích.
- Cho tôi hỏi ông một câu. Ông để tóc dài như vậy không bị phạt sao ?
- Cái ông này chỉ được cái vớ vẩn, nãy giờ ông hỏi tôi bao nhiêu câu rồi ? Ở đây có tất cả ba sĩ quan người Kinh, mỗi người một đại đội, nay có thêm ông nữa là bốn, chắc ông sẽ về đại đội một. Tất cả Đại đội trưởng của bốn đại đội đều là người Thượng, trong đó có một ông là Fulro đầu thú. Họ chấm tọa độ điểm đứng còn chưa xong, hơi đâu mà lo đến quân phong với quân kỷ.
Ngửa cổ nốc cạn lon bia, Chuẩn úy Hòa nói tiếp :
- Chiều rồi, xuống hầm của tôi kiếm chút cơm dằn bụng, xong đâu đấy tôi còn phải đi lo chuyện phòng thủ ban đêm. Ông nên nhớ núi rừng cao nguyên đêm xuống rất lẹ, chưa kịp làm gì thì trời đã tối thui cho mà xem:
- Hầm ở đâu ?
- Ngay đây thôi, nguyên tắc đầu tiên ở đây là, làm gì thì làm luôn luôn cách miệng hầm không quá mười thước.
- Tại sao vậy ?
- Khi nghe tiếng đạn pháo đầu tiên của địch đề pa, mình chỉ có tối đa năm giây là phải ở dưới hầm, trễ hơn là bể gáo.
Đưa tay chỉ vào cuối hầm Chuẩn úy Hòa nói tiếp :
- Đêm nay ông ngủ tạm nơi chiếc ghế bố đằng kia.
Nhìn vào góc hầm tối thui như cái hũ nút, tôi chợt hiểu, thì ra “ Mặt trời không bao giờ rọi tới LOK” có nghĩa là ở dưới hầm, chỉ có vậy mà Trung sĩ Bé còn bày đặt chơi chữ. Đang mò mẫm đi vào góc hầm thì tiếng của Chuẩn úy Hòa nhắc tôi :
- Nếu có pháo kích thì nón sắt, súng M16 đứng giữ cửa hầm, bất cứ ai chạy trên mặt đất ông cứ bắn thoải mái.
- Làm sao phân biệt được địch và bạn ?
- Lính mình chỉ di chuyển dưới giao thông hào, trên mặt đất là VC. Nói vậy thôi chứ ông đừng lo, đó là trường hợp căn cứ bị tràn ngập.

- Chuẩn úy Trần văn Đạt, số quân .......... trình diện Đại úy.
- Ông mới ra trường mà đã bày đặt ba gai phải không ?Tới đây từ hôm qua sao hôm nay mới trình diện ?
- Thưa Đại úy, hôm qua tôi đi qua văn phòng của Bộ chỉ huy không thấy ai làm việc hết.
- Làm việc ở đó để ăn pháo rồi chết à. Tất cả mọi người ở đây đều ăn, ngủ, làm việc dưới hầm ông hiểu chưa ?
- Thưa Đại úy tôi có gặp Chuẩn úy Hòa, ông ấy bảo để mai hãy trình diện.
Vung tay đập bàn cái rầm, Đại úy gằn giọng :
- Tôi là Tiểu đoàn Trưởng hay Chuẩn úy Hòa là Tiểu đoàn Trưởng ?
- Thưa Đại úy, ông là Tiểu đoàn Trưởng.
- Trung sĩ Kim đâu ? Đưa ông Chuẩn úy này về Đại Đội một, mà thôi chở ông ấy ra tiền đồn luôn.
Quay qua nhìn tôi, Đại úy tiếp :
- Ông ra nằm tiền đồn, một tháng sau tôi sẽ điều ông về Đại Đội. Ông đi ngay lập tức, tôi không muốn thấy mặt ông ở đây.
Theo chân Trung sĩ Kim, tôi rời hầm chỉ huy mà lòng đầy khoan khoái. Tôi cười thầm trong bụng, lặn một hơi mười ngày không mắng một câu, không ký một củ, không la một tiếng. Trong khi chỉ trễ chút xíu thì lại đày đi tiền đồn. Đã xuống địa ngục rồi thì tầng đầu hay tầng cuối cũng là địa ngục mà thôi, đang miên man suy nghĩ ...
- Chuẩn úy à, ông làm thằng em kẹt theo rồi.
- Sao vậy ?
- Từ đây ra tiền đồn, tám cây số đường rừng quanh co khúc khỉu với hàng ngàn cái ổ gà, cái nào cái nấy to như cái thúng, không biết mấy ngày qua VC có chôn mìn không ? Nếu bọn họ gài mìn thì ông và tôi kể như chết chắc.
- Đại úy Châu vừa mới hù tôi xong, bây giờ đến ông phải không ?
- Chuẩn úy mới tới nên không biết đó thôi, trong vòng một năm bốn chiếc xe, vừa GMC, vừa Jeep của Chi khu bị trúng mìn, thêm hai xe đò dân sự với hơn năm mươi thường dân vừa Kinh, vừa Thượng, vừa đàn bà, vừa trẻ em bị chết. Từ đó đến nay xe cộ không được phép di chuyển, mà dù có cho cũng chẳng ai dám đi. Đường bộ từ Ban Mê Thuột vào bị đắp mô, đóng chốt, rồi bỏ phế, mỗi khi cần chuyển quân hoặc tiếp tế, phải hành quân mở đường và dò mìn trước đã.
Tôi quẳng cái ba lô lên xe Dodge 4x4 trèo lên ghế trưởng xa mà lòng đầy ngao ngán, than thầm cho cái số con rệp của mình. Những gì Trung sĩ Bé ở phòng nhân viên tiểu khu nói với tôi hầu như là đúng hết, chỉ thiếu một điều ông ta không nói là : mìn.
Tiếng động cơ nổ giòn, xe lăn bánh chầm chậm ra cổng của căn cứ rồi đột nhiên ngừng lại.
- Chuẩn úy, tôi có chuyện muốn đề nghị với ông.
- Chuyện gì ?
- Tôi nghi quá, linh tính báo cho tôi biết có sự chẳng lành. Không dò mìn mà đi ra tiền đồn thế nào cũng dính mìn, mà mìn chống chiến xa chứ chẳng phải chơi đâu. Xe tăng còn nát bét huống hồ gì cái xe Dodge nhỏ xíu này.
- Làm như có một mình Trung sĩ biết sợ chết, tôi cũng sợ thấy mẹ.
- Hay là để tôi mượn xe Honda chở ông ra tiền đồn, đi xe hai bánh là an toàn trên xa lộ, mình có thể lách được không sợ ổ gà, vì ổ gà chính là chỗ VC chôn mìn.
- Sao mày không nói sớm ? Vì mừng quá tôi kêu trung sĩ Kim bằng mày, quên giữ gìn cách ăn nói lịch sự, xưng hô theo cấp bậc.



T
iền đồn nằm trên đỉnh đồi sót, khá cao với hàng chục lớp kẽm gai bao bọc, một con đường mòn nhỏ cong quẹo, uốn lượn theo sườn đồi dẫn lên đỉnh.
Đón tôi dưới chân đồi là 2 binh sĩ, súng đạn đầy người, họ đứng nghiêm chào tôi rồi nói :
- Bọn em được lịnh xuống đón Chuẩn úy.
Theo chân hai người lính, tôi cứ từ từ vừa đi vừa ngắm cảnh, tiện thể quan sát cách phòng thủ của đồn.Những vỏ lon bia, vỏ lon thịt hộp treo lửng lơ trên những lớp hàng rào kẽm gai chạm vào nhau kêu lẻng kẻng, như nhắc nhở cho tôi biết là mình đang ở trong một tiền đồn nơi biên giới, xa thật là xa, xa lắc xa lơ, xa hẳn xã hội loài người.
Khi lên tới nơi tôi mới giật mình hoảng hốt, mồ hôi ướt như tắm không biết tại leo núi hay vì sợ. Chỉ có 2 binh sĩ đón tôi là người Kinh còn tất cả là người Thượng. Quân trường có bao giờ dạy tôi cách chỉ huy người Thượng đâu. Những binh sĩ này trước kia là Biệt kích Biên phòng, lính không có số quân, lãnh lương của Mỹ. Khi các trại Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, đổi thành Biệt Động Quân Biên phòng, họ đào ngũ gia nhập Địa phương Quân.
Tôi đang đứng ngay trên đỉnh đồi, nhìn quanh một vòng cả một thung lũng bao la bát ngát, xung quanh là núi rừng bao bọc, cây liền cây, núi liền núi, cao ngút từng mây. Bề ngang thung lũng ước chừng 5km, bề dài khoảng 20km khiến tôi nhớ đến kích thước của thung lũng Điện Biên Phủ. Ngày xưa quân đội Pháp phòng thủ Điện Biên Phủ với khoảng vài chục ngàn quân, cọng thêm phi cơ, chiến xa và đại bác, đã bị thất thủ. Giờ đây, tôi phòng thủ cái tiền đồn bé tí ti với độ hơn chục người lính, coi bộ cuộc đời của mình không được khá cho lắm. Tôi đã đi đến tận cùng của trái đất, đã xuống tới tầng chót của điạ ngục, từ đỉnh của tiền đồn quay một vòng 360 độ không một mái nhà, không một bóng người, đây là khu oanh kích tự do.
Tôi tập họp trung đội, trung sĩ nhất Trung đội trưởng báo cáo quân số : chỉ vẻn vẹn 22 người. Nghe cũng an ủi được phần nào, 22 người dù sao cũng nhiều hơn con số mà tôi ước đoán. Súng cộng đồng trong đồn gồm có 2 đại liên M60, 2 súng cối 81 ly, đạn dược đầy đủ nếu không muốn nói là dư thừa. Sau khi tìm hiểu cách bố trí phòng thủ của tiền đồn, tôi kêu mấy tay xạ thủ súng cối, là người Thượng nhưng họ nói và nghe được tiếng Việt tuy không rành lắm.
- Các ông có thấy cây cổ thụ ở ngoài xa, dưới chân đèo hay không ?
- Thấy chớ.
- Điều chỉnh tác xạ, nhắm vào cây cổ thụ bắn cho tôi vài quả.
- Tuân lệnh.
Sau một hồi loay hoay tính toán về khoảng cách, cao độ, thuốc bồi, 4 viên đạn 81 ly thoát ra khỏi nòng súng hướng về phía cây cổ thụ. Tôi đang dùng ống dòm quan sát mục tiêu thì người hạ sĩ truyền tin vác máy PRC25 chạy ào đến đưa ống liên hợp cho tôi:
- Đại úy Tiểu đoàn trưởng trên máy, muốn nói chuyện với Chuẩn úy.
- Cải cách, ủng hộ, Đống đa.
- Ông dẹp mẹ nó mấy cái chữ ngụy hóa tào lao đó đi được không ? Đang làm gì ngoài đó ?
- Thưa Đại úy, tôi đang điều chỉnh tác xạ súng cối tám mươi mốt ly.
Tiếng của Đại úy Tiểu đoàn trưởng gằn giọng trong máy:
- Dạ thưa ông Chuẩn úy, ông muốn điều chỉnh tác xạ thì kệ ông nhưng trước khi bắn ông phải báo cáo về căn cứ, ông có biết tất cả mọi người ở đây khi nghe súng cối đề pa là xuống hầm hết hay không ? Họ đang báo động là VC pháo kích. Tôi chỉ tiếc là không còn chỗ nào nữa để đưa ông đi, không lẽ lệnh cho ông dẫn vài thằng lính, ôm lựu đạn đi kích ở chân đèo ?
Ngừng một chút như để dằn cơn giận (tôi đoán như vậy), Đại úy Tiểu đoàn trưởng rên rỉ:
- Chuẩn úy ơi là chuẩn úy, ông làm ơn quên cái quân trường của ông được không ? Đợi ông tính toán xong xuôi, bắn được 1 viên đạn súng cối thì tụi VC đã tràn ngập mẹ nó cái đồn của ông rồi.


Mãn hạn trấn thủ lưu đồn, tôi được gọi trở về căn cứ. Chuẩn úy Hòa đã chuẩn bị sẵn một bữa tiệc thịnh soạn với đủ món ngon để đón người về từ đỉnh núi. Một nồi canh rau muống nấu với tôm khô trong đó có thêm mấy trái cà chua đỏ tươi, cá lóc kho tiêu, một đĩa trứng chiên. Hơn một tháng ở tiền đồn chỉ toàn cá khô, thịt hộp, cơm sấy và rau rừng gồm đủ mọi thứ lá từ đăng đắng, nhân nhẩn đến chua chua, giờ đây được ăn canh rau muống thì quả thật đây là thứ rau ngon nhất trần đời. Cơm nước xong xuôi lại đến màn cà phê phin với sữa đặc có đường hiệu ông Thọ đàng hoàng, mùi cà phê thơm lừng, vị ngọt của đường, chút béo của sữa, hòa với cái đăng đắng của cà phê mới hớp một ngụm đã thấy sảng khoái cả tâm thần, bao nhiêu là mệt mỏi khổ cực biến đi đâu mất.
Bum..bum..bum.
-Pháo kích, pháo kích.
Tiếng la của ai đó từ bên ngoài vọng vào, âm vang chưa kịp dứt thì.
Ầm..ầm..ầm.
Không biết bao nhiêu là trái đạn súng cối 82 ly tới tấp thi nhau nổ, những tiếng nổ liên tiếp kéo dài liên tu bất tận. Tôi cảm nhận được sự rung chuyển của mặt đất, bụi từ trên nóc hầm lã chã rơi xuống mù mịt căn hầm. Lần đầu tiên trong cuộc đời, thật sự chạm mặt với chiến trường, đứng trước mũi tên hòn đạn, thấy được cái chết sừng sững trước mắt, tôi lặng người đi vì sợ hãi, hoảng hốt thì đúng hơn. Khi đạn pháo bắt đầu thưa dần, tôi mới bình tỉnh trở lại. Nhìn ly cà phê váng bụi, tiếc của trời tôi bưng lên ực một hơi, cà phê thoang thoảng mùi con gián chết. Tôi vơ vội cây súng M16 cùng với chuẩn úy Hòa chạy ra giao thông hào.
Lúc này thì 2 khẩu đại bác 105 ly của căn cứ bắt đầu phản pháo, đạn 105 ly vụt đi, chưa biết có trúng được nơi VC đặt súng hay không nhưng âm thanh của nó nghe thật là phấn chấn.
Lại đến đợt pháo thứ 2, lần này thì ít hơn chỉ độ vài chục trái. Người lính đứng bên cạnh tôi nói:
-Không sao đâu chuẩn úy, ở đây pháo ban ngày thì không sợ cái màn “tiền pháo hậu xung” lát nữa lên dọn dẹp là xong chuyện, coi như không có gì xảy ra.
-Hạ sĩ ở đây bao lâu rồi?
-Gần một năm, lúc đầu khi mới xuống sợ pháo kích quá sức, riết rồi thành quen đâm ra lờn, có pháo cũng như không. Mà nè, làm một điếu thuốc cho ấm phổi đi chuẩn úy.
-Làm thì làm, sợ gì.
Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình.
-Chuẩn úy Đạt, có lịnh gọi ông đi trình diện.
Tôi vội vàng đi qua hầm của bộ chỉ huy. Trên đường đi tôi tình cờ gặp một người lính nằm bò càng dưới đất, chân mang đôi giày bốt đờ sô to qúa khổ so với thân hình của ông ta. Ông ta đang dùng lưỡi lê để đào một trái đạn súng cối 82 ly chưa nổ. Khi moi được một nhúm đất ông ta dùng tay gạt nhẹ qua một bên rồi lại đào tiếp, khi đào được phân nửa trái đạn, cái đuôi viên đạn súng cối đã hiện nguyên hình, bất ngờ người lính rút hai tay lại xoa vào nhau rồi lẩm bẩm trong miệng “ hãy còn nóng”.
-Anh đang làm gì vậy? Tôi hỏi.
Quay đầu nhìn tôi, người lính nói:
-Đào đem đi dụt, chuẩn úy.
Tôi đoán là anh ta ở trong toán tháo gỡ đạn dược. Không muốn hỏi nhiều khi anh ta đang thi hành công vụ, tôi lặng lẽ quan sát hiện trường. Nhìn gương mặt của anh ta đỏ gay đỏ gắt, mồ hôi nhễ nhãi chảy dọc theo hai bên thái dương, nhìn trái đạn còn nóng hổi, tôi suy nghĩ một chút rồi lẹ làng dọt mau mau cho được việc, đứng đó lạng quạng lỡ trái đạn nổ bất thình lình, mình bị chết lây lảng nhách.
Tôi trình diện trung úy đại đội trưởng, ông ta là người Thượng nhưng nói tiếng Kinh khá sõi.
-Chuẩn úy sẽ là trung đội trưởng trung đội 1. Ông đi gặp hạ sĩ quan tiếp liệu lãnh địa bàn, bản đồ và vật dụng cần thiết. Hôm nay đại đội của...
Ầm...chỉ một tiếng nổ vang lên từ bên ngoài, trung úy đại đội trưởng nghiêng đầu như nghe ngóng rồi hỏi.
-Cái gì nổ vậy?
-Trung úy có muốn tôi ra coi không?
-Thôi kệ nó đi, hôm nay đại đội của mình đi hành quân bảy ngày, mục tiêu là lục soát vùng VC đặt súng cối, ông về chuẩn bị.
Trên đường về, tôi thấy mấy người lính quân y bu quanh xác một người lính không đầu với mảnh hình hài nhầy nhụa nát tan. Nhìn xuống đôi giày bốt đờ sô to qúa khổ, tôi biết anh ta là ai rồi. Mới nói chuyện với tôi đó mà, cuộc sống phù du, sống đó rồi chết đó, dễ dàng như chuyện uống miếng nước, ăn chén cơm, hút điếu thuốc.


*

Trung đội phó báo cáo quân số của trung đội, tôi kiểm soát lại cấp số đạn và 7 ngày lương khô của binh sĩ. Trong lúc tôi đang dùng viết chì mỡ khoanh vùng đỉnh núi chỉ cho trung sĩ nhất trung đội phó mục tiêu cuả cuộc hành quân.
-Chuẩn úy, em là Năm thẹo, ông đưa hết đồ đạc cá nhân của ông em mang cho. Từ đây về sau ông thầy cứ yên tâm, mọi chuyện đã có Năm thẹo lo hết.
Tôi nhìn anh binh nhì đang đứng trước mặt, trạc tuổi tôi nhưng thân hình to lớn dềnh dàng, tóc quăn, da mặt ngăm ngăm đen, với đôi mắt sáng quắc, thoạt nhìn đã thấy rõ cái ngang tàng ngạo nghễ trong con người của anh ta. Một vết thẹo dài chạy dọc theo bên má trái từ chân mày đến cằm, vết thẹo làm tăng thêm phần lì lợm, bụi đời trên gương mặt của Năm thẹo. Thật sự mà nói nếu không nhờ vào bộ đồ lính với cặp lon chuẩn úy nơi cổ áo, có cho kẹo tôi cũng không dám nhìn anh ta. Tôi lấy gân, gồng mình hỏi.
-Ngày xưa em ở đâu?
-Dạ, Tôn Đản, Khánh Hội ông thầy.
-Có phải du đảng không đó?
Năm thẹo chật lưỡi, gãi đầu.
-Dạ, cũng có dính líu chút ít.
-Năm thẹo nè.
-Có gì chuẩn úy.
-Mày vén áo lên tao coi, còn bốn cái thẹo nữa ở đâu?
-Ông thầy ơi, một cái thẹo trên mặt thêm hai cái xương sườn gãy khi bị du đảng Cầu Muối thanh toán khiến em nằm nhà thương cả tháng trời, nếu lãnh thêm bốn cái thẹo nữa chắc em chết từ cái đời nào rồi. Em tên Năm, vì có cái thẹo trên mặt nên bạn bè gọi là Năm thẹo, riết rồi chết tên luôn.
Tôi chọn Năm thẹo làm đệ tử và biết rằng kể từ đây mạng sống của tôi và Năm thẹo sẽ buộc chặt lấy nhau. Tôi cần đến sự giúp đỡ của Năm thẹo trong khi đi hành quân. Ngược lại chưa hẳn Năm thẹo cần đến sự bao che của tôi.
Sau 2 ngày leo núi, tối ngày thứ ba đại đội đóng quân trên đỉnh núi với thế đất hình yên ngựa, chuẩn bị sáng hôm sau sẽ lục soát đỉnh núi bên cạnh, nơi VC đặt súng cối.
Suốt đêm, trên đỉnh núi cao vời vợi, tôi nằm một mình trên chiếc võng nghe gió hú, từng hồi, từng cơn, tiếng gió hú nghe như từ cõi âm vọng về lạnh lùng đến rợn gáy.
Năm thẹo bất chợt nói với tôi, giọng nói nhỏ như là cơn gió thoảng bên tai.
-Ông thầy, lần đầu nghe gió hú phải không?
-Ừ, nghe nó rờn rợn làm sao ấy.
-Nghe riết rồi cũng quen thôi ông thầy à, gắng ngủ đi, lấy sức mai còn lội tiếp.
Mờ sáng ngày thứ tư, khi sương mù còn bao phủ dày đặc trên đỉnh núi, tôi dẫn trung đội 1 đi đầu tiến đến mục tiêu. Tiểu đội 1 báo cáo có nhiều đường mòn, họ tránh không dùng đường mòn vì sợ mìn bẫy. Khi trung đội của tôi đã chiếm đóng mục tiêu, bố trí phòng thủ, 3 trung đội còn lại lần lượt đến, lịnh đại đội trưởng bung rộng ra để lục soát, tìm nơi chôn giấu súng cối và đạn.
Ầm...ầm..
Hai tiếng nổ liên tục, tôi biết có chuyện chẳng lành. Qua máy PRC 25 trung đội 3 báo cáo với đại đội trưởng, 2 binh sĩ chết, 2 bị thương do mìn VC gài lại. Cùng lúc đó tôi nhận được lịnh dùng mìn phá rừng dọn bãi đáp cho trực thăng tải thương.
Sau gần 2 tiếng đồng hồ làm việc cật lực, chúng tôi phát quang được một khoảng trống khá rộng đủ chỗ cho trực thăng xà xuống bốc ngưòi.
Vẫn biết rằng “xưa nay chinh chiến mấy ai về”, bài Lương Châu Từ còn đó nhưng khi nhìn hai xác chết được cuốn gọn trong tấm poncho, đầu đuôi cột chặt thêm phiếu tải thương cột bên hông khiến tôi nghĩ đến chuyện da ngựa bọc thây tưởng chỉ có trong điển tích của Tàu, giờ đây nó ngay trước mắt mình. Những ngày đầu vào lính, khi lãnh quân trang có thêm cái poncho, tôi chỉ nghĩ là nó dùng để che mưa, không biết được công dụng khác là dùng như tấm da ngựa để bọc thây khi chết. Tôi nói với Năm thẹo:
-Nếu tao có phải cuộn mình trong tấm poncho mày làm ơn nhắn lại với ba má của tao là: “Tao thương ông bà”, chỉ có thế thôi.

Hai Đại đội phòng thủ căn cứ, hai đại đội hành quân di động tiêu diệt địch ở bên ngoài, có nghĩa là cứ lội 15 ngày trong rừng, sau đó về phòng thủ căn cứ dưỡng quân 15 ngày.
Một năm rưỡi trôi qua, một năm rưỡi giải nắng dầm mưa, hít thở cái lạnh lẽo của cao nguyên, cơm thì gạo sấy thịt hộp, nước thì suối cạn trong rừng, đụng độ với địch dăm bảy lần, tôi lãnh được 2 cái huy chương, cọng thêm cái biệt danh “ Đạt húc”.
Ngày tôi lên chức Thiếu úy cũng là lúc thực thụ nắm Đại đội trưởng, cũng ăn tục nói phét như điên, chửi thề uống rượu như máy. Tôi là đại đội trưởng sáng giá nhứt của tiểu đoàn, là cánh tay mặt của tiểu đoàn trưởng, ông ta coi tôi như thằng em nhỏ, tình thân giữa ông và tôi là cái tình nửa nhà binh nửa là người anh lớn lo cho thằng em.
Tôi tưởng rằng cuộc đời của mình sẽ cứ như vậy mà đi qua, không ngờ có một ngày đặc biệt khiến tôi nhớ mãi suốt đời, ngày mà cuộc đời lính của tôi bước sang khúc quanh mới. Hôm ấy, tôi với tiểu đoàn trưởng cùng vài người lính trong tiểu đoàn uống rượu tiêu sầu, ở chốn thâm sơn cùng cốc này ngoài rượu ra có gì để mà giải sầu đâu ? Sau vài ly xây chừng tôi hỏi Đại úy :
- Ngày mới ra trường khi trình diện, tại sao ông giận dữ đày tôi đi tiền đồn ?
- Có gì đâu, tao không thích chuẩn úy Hòa vì nó đánh đấm thì chẳng ra cái con mẹ gì, đã vậy suốt ngày cứ say sưa. Chú mày mới chân ướt chân ráo đến đây đã có vẻ muốn theo chân chuẩn úy Hòa, cho nên tao đày đi tiền đồn cho bỏ ghét.
- Nếu lúc đó trên đường ra tiền đồn, xe Dodge bị trúng mìn nát bét thì sao ?
- Chú mày nhắc tao mới nhớ. Sau khi chú mày đi rồi tao mới hết hồn, trong lúc nóng giận tao quên mất chuyện mìn gài đầy đường. Đang còn bực bội chưa hết, tiếp theo chuyện chú mày lại điều chỉnh tác xạ súng cối khiến tao giận cành hông. VC pháo kích vào căn cứ là chuyện thường tình, đằng này phe ta pháo kích phe mình, không giận sao được.
- Đại úy à, tôi còn thêm câu hỏi này nữa. Ngày đó tôi còn ngơ ngơ ngáo ngáo như con ngỗng đực lại thêm không gốc, không rễ cho nên mới bị đày xuống đây. Đại úy chắc cũng vậy chứ gì?
- Chú mày chỉ được cái giỏi là suy bụng ta ra bụng người. Đúng, tao bị đày xuống đây nhưng lý do thì khác, tao đâu có phải là con ngỗng đực.
Đại úy Châu xé miếng khô nai to bằng bàn tay đưa lên trước mặt, lật qua rồi lật lại, ông nói mà như là than thở
-Cuộc đời của tao nó cũng bầm giập như miếng khô này, bị phơi không biết bao nhiêu là nắng, sấy cho đến lúc khô queo khô quắc, giờ đây lại bị nướng trên lửa than rồi hun khói, cháy đen thui là phải. Chú mày biểu Năm thẹo xé nhỏ miếng khô này, dầm trong tô nước mắm ớt, chanh đường rồi đem lên đây.
- Đại úy cần gì nữa không?
- Không.
Đưa tay với lấy cái zippo có hình con cọp nâu nhe hàm răng đủ 13 cái, đại úy Châu đốt một điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ, khói thuốc màu trắng xám chập chờn uốn lượn trong không gian, lan tỏa khắp căn hầm, ông nhắm mắt như muốn thả hồn theo khói thuốc.
-Thiếu tá Nguyễn Văn Tinh Châu, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Biệt Động quân là tao.
Tôi lặng người đi vì không ngờ xếp của mình trước kia là thiếu tá mà lại là thiếu tá tiểu đoàn trưởng của một binh chủng lừng danh.
-Đại úy, ông bị giáng cấp phải không?
Không buồn trả lời câu hỏi của tôi, đại úy Châu nâng ly rượu nốc một hơi, ông uống rượu mà nhăn mặt như là đang uống cạn đắng cay của cuộc đời. Đặt ly rượu xuống bàn, đại úy Châu thong thả nói, giọng nói nghe trầm trầm như âm vang từ qúa khứ vọng về.
-Ở một vùng biên giới, chú mày có biết nơi mà giòng sông chảy ngược hay không?
-Đại úy nói gì? Nước chảy ngược?
-Ừ, tất cả sông ở miền Trung của Việt Nam đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn chảy về hướng đông, tức là chảy ra biển, riêng khúc sông này nó lại chảy về hướng tây, tức là đổ qua Lào, cho nên người ta gọi nó là sông chảy ngược. Tại đây, một đại đội đi đầu của tao đụng độ nặng với Việt Cộng. Địch quân đông như kiến, hỏa lực hùng hậu, hàng chục khẩu cối 82 ly pháo như mưa vào cái đám con của tao. Chú mày biết rồi, bên kia biên giới là an toàn khu của Việt cộng, nơi mà họ dưỡng quân, nghỉ ngơi thiếu điều dựng lều hát chèo, xây sân khấu cho văn công trình diễn văn nghệ thì cũng chẳng có ai làm gì.
Trong lúc đại đội bị nguy khốn cần yểm trợ hỏa lực, tao yêu cầu cố vấn Mỹ xin không yểm, nhìn gương mặt lạnh lùng như cái xác chết của thằng cố vấn, kèm theo giọng nói tĩnh bơ như không phải chuyện của nó “Bên kia biên giới, không lực Mỹ không yểm trợ được vì vi phạm luật trung lập của Lào”.
Rừng núi bao la, cây cối xanh um, mây trắng ngút ngàn một đường kẻ cong quẹo trên bản đồ, nhỏ như sợi chỉ gọi là đường biên giới nó quá sức mù mờ, đẩy qua phía bên kia dăm ba cây số cũng được, kéo lại bên này vài cây số cũng xong, biết đâu là chân lý? Giận thằng cố vấn Mỹ cứng ngắt theo nguyên tắc, nóng ruột vì của đau con xót, đám con của tao đang khắc khoải đợi chờ yểm trợ từng giây từng phút, cứu binh như cứu lửa, chậm một phút kể như ôm hận ngàn đời. Tao nổi điên rút cây colt 45, lên đạn.
Tôi nghĩ rằng mình biết về xếp của mình nên lanh chanh hớt lời.
-Chỗ này thì tôi biết, ông bắn chết thằng cố vấn Mỹ chứ gì?
-Nói tầm bậy, ai nói với chú mày như vậy?
-Bọn lính kể với tôi.
Một thoáng không vừa lòng hiện ra trong đôi mắt của đại úy Châu, ông chỉ vào cây cột to chần dần giữa hầm.
-Chú mày qua dựa lưng vào cây cột đó rồi nói chuyện cho đở mỏi.
-Tôi còn khỏe mạnh, có mệt mỏi gì đâu.
-Ông bà mình có nói “Biết thì thưa thốt, không biết thì ..”
Tôi ngậm câm như thóc rồi tự hứa với mình là phải học hỏi thêm nhiều nơi ông, bỏ đi cái tính nhanh nhẩu đoảng.
Đại úy Châu rót thêm rượu vào cái ly của tôi.
-Thói đời, có ít cứ nới cho nhiều, thêm thắc, vẽ vời cho lắm, có một đồn mười, dám tụi nó đồn tao là hung thần giết người như ngoé cũng nên. Tao chỉ bắn què giò thằng cố vấn Mỹ sau đó phải tự lực cánh sinh, đem mấy đại đội còn lại cấp tốc đi đường vòng đánh thẳng vào nơi đặt súng cối của Việt Cộng, giải vây cho đám con của tao. Tao cứu được đám con đem về bên này biên giới nhưng không cứu được bản thân tao.
Ra tòa án quân sự vì tội bắn cố vấn, tao bị lột lon, giáng một cấp và đuổi ra khỏi binh chủng. Tao mang lon đại úy và đi đày ở đây như mày thấy. Đã ba năm qua rồi, giờ thì tất cả đã chìm sâu vào dĩ vãng. Tao không bao giờ ân hận về việc làm của mình, cũng như không bao giờ quên binh chủng, máu của cọp mũ nâu vẫn còn chảy trong huyết quản của tao. Mỗi khi nhớ tới đơn vị cũ tao lại bận bộ đồ Biệt Động Quân, bận để thương nhớ binh chủng của mình hơn là tiếc cho cái lon thiếu tá.

Nhưng mà thôi, chuyện xưa dẹp qua một bên để dành làm kỷ niệm. Tao có món quà đặc biệt, chú mày sinh quán ở đâu ?
- Đalat.
-Tao chỉ muốn hỏi lại thôi, không có gì bàn cãi nữa. Đây là công điện từ bộ Tổng Tham Mưu gởi Tiểu khu Darlac với nội dung là Trường Võ Bị Dalat cần một sĩ quan tham mưu, tao đã dành chỗ này cho chú mày. Sau khi nhậu xong, qua bên cố vấn Mỹ theo trực thăng về tiểu khu để hoàn tất thủ tục thuyên chuyển. Lẹ lên, không được bỏ lỡ cơ hội, cờ tới tay mà không chịu phất, chần chờ có đứa nào khác nó chộp mất thì phiền.
-Tôi có biết gì về tham mưu đâu. Nghề của tôi là húc mà.
-Đừng có lo, trước đây hai năm, có bao giờ chú mày nghĩ rằng chú mày là một thằng đại đội trưởng có hạng hay không ?
Vui buồn lẫn lộn, về quân trường thì an toàn cho bản thân, khỏi phải lội suối băng rừng nhưng những ân tình của lính cũng như là của tiểu đoàn trưởng đã dành cho mình thì sao ? Tôi còn sống cho đến ngày hôm nay là nhờ sự hy sinh của họ, lấy gì báo đáp đây ?
-Đại úy, tôi có một thỉnh cầu xin đại úy giúp cho.
-Gì nữa đây?
-Tôi đi rồi bỏ Năm thẹo bơ vơ một mình, tội nghiệp nó.
-Tao vẫn thích những đứa thủy chung, có trước có sau như mày. Tao sẽ đem Năm thẹo về bộ chỉ huy tiểu đoàn với tao, mày vừa ý chưa?
-Chưa, đại úy à, thằng em đi rồi ông ở với ai ?
-Chú mày khéo lo bò trắng răng. Khi nào VC ũi xập cái căn cứ này thì lúc đó mày hãy lo. Ngày rời khỏi địa ngục trần gian, tôi ôm Đại úy Tiểu đoàn trưởng khóc ròng.

*
Cổng Nam Quan của trường Võ Bi Đalạt không to lớn, không đồ sộ, trên nóc cổng là ngọn cờ Quốc Gia tung bay phất phới, dưới chân cột cờ là phù hiệu của trường với thanh kiếm bạc chỉ thẳng lên trời, thêm hàng chữ “ Tự thắng để chỉ huy” nổi bật trên nền gạch đỏ, nhờ sự phối hợp hài hoà khiến cổng trường trông oai nghiêm, hùng dũng. Hình ảnh cổng Nam Quan, biểu tượng của trường Võ Bị Đalạt như in sâu vào trong trí nhớ của tôi. Tôi bước chân qua cổng. Bắt đầu từ đây, tôi là sĩ quan cơ hữu của trường.
Theo con đường tráng nhựa sạch bong, không một cọng rác, hai bên vệ đường cỏ mọc xanh rì, được cắt tỉa gọn gàng, tôi đi thẳng đến phòng nhân viên. Trên đường đi, tôi chào kính mệt nghỉ, chào mỏi tay. Sau này tôi mới rõ thêm, trường Võ Bị Đalạt là nơi quần anh tụ hội. Hình như ở đây quan nhiều hơn lính, quan cấp úy đếm không hết, quan cấp tá phải vài chục ông, đã vậy có lúc trong trường còn thêm hai ông tướng, Thiếu tướng chỉ huy trưởng, Chuẩn tướng chỉ huy phó.
Mang một cái bông mai trụi lủi như tôi, chào kính mỏi tay là phải. Chưa chi tôi đã nản chí anh hùng, muốn hát bài “Hổ nhớ LOK”, một mình một chợ, tha hồ múa gậy vườn hoang, dẫn gần trăm người lính, lội nửa tháng trong rừng nhìn khắp bốn phương, tìm khắp tám hướng chỉ thấy cái bông mai của mình là lớn nhất.
Trường Võ Bị Đalat xây trên ngọn đồi thấp với cao độ 1500 mét, nằm cách trung tâm thành phố khoảng 5km, được kiến trúc theo kiểu Mỹ gồm nhiều dãy nhà 4 tầng, dùng làm nơi ở cho sinh viên có 4 doanh trại, mỗi doanh trại có khoảng 100 phòng ngủ, phòng ăn rộng mênh mông bát ngát đủ sức dọn ăn cho trên 1000 sinh viên cùng ăn một lượt, thư viện với đầy đủ sách cho sinh viên nghiên cứu, riêng nhà thí nghiệm nặng được xây âm dưới đất. Sân cỏ của vũ đình trường Lê Lợi lúc nào cũng xanh mướt với con đường tráng nhựa bọc quanh, tất cả đều sạch sẽ ngăn nắp. Qua cái nhìn đầy chủ quan của tôi thì khó có học viện quân sự nào ở Đông Nam Á có thể sánh bằng.
Điều hành trường gồm có 3 khối : Văn hóa, Quân sự và Tham mưu, phòng làm việc của tôi ở tầng 2 ngay cầu thang xoắn ốc của Bộ chỉ huy, đối diện với phòng của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.
Đang từ một chỗ quanh năm suốt tháng sống dưới những căn hầm chật chội, ẩm thấp đêm cũng như ngày lù mù lờ mờ trong ánh sáng của ngọn đèn dầu hột vịt bé tí tẹo, giờ đây tôi ngồi làm việc trong căn phòng rộng rãi, thoáng mát với tất cả đầy đủ tiện nghi. Hơn 10 cái điện thoại trước mặt, gồm 2 hot line dùng để liên lạc trực tiếp với phòng 3 của bộ Tổng Tham Mưu, 2 class A liên lạc khắp miền Nam, 2 class C liên lạc trong tỉnh và 5 điện thoại nội bộ, phải mất cả tháng trường tôi mới tạm quen với công việc..
Có những buổi chiều thu, khi mây xám giăng đầy bầu trời Đalat, từng cơn mưa phùn kéo nhau qua quân trường, mưa nhè nhẹ, từng hạt mưa nhỏ, nhỏ như hạt bụi vướng vào cửa kính, trong phòng hơi nước phủ mờ mặt gương, thoải mái với không khí ấm cúng của căn phòng khiến tôi bồi hồi nhớ lại những cơn mưa ở LOK, nhớ những buổi chiều, trên cao nguyên vùng biên giới với bầu trời xám xịt, nằm trên chiếc võng nhìn từng giọt nước theo sợi dây cột ở đầu võng rơi tóc tách, âm thanh nghe buồn đến nát ruột, nhớ đến những người lính co ro, run rẩy trong bộ quần áo sũng nước mưa, nhớ Năm thẹo vác tôi chạy như bay đến trực thăng tải thương, dưới cơn mưa pháo của VC, nhớ Đại úy Tiểu đoàn trưởng quay người bước đi như trốn chạy khi ông ta tiển tôi rời khỏi LOK. Đột nhiên ý tưởng xin trở về LOK hiện ra trong đầu tôi.
Gần 5 năm ở trường Võ Bị Đalạt, tôi chưa một lần đụng đến cây súng treo ở góc phòng. Phải đợi cho đến cuối tháng 3 năm 1975, tôi mới cầm lại cây súng M16 cùng với quân nhân cơ hữu và khoảng 1000 sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đalạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan của trường Bộ Binh Thủ Đức.
Giã từ đồi Tăng Nhơn Phú, sau 7 năm lưu lạc, tôi trở về để tình cờ thấy lại hình bóng của mình ngày xưa với mồ hôi nhễ nhại, cát bụi lấm lem đầy người, đang thi hành lịnh phạt hai mươi cái bơm dầu bên cạnh ông huynh trưởng đứng phùng mang trợn mắt huấn luyện đàn em. Trở về để thấy thuở còn là sinh viên sĩ quan, đang thực tập tác xạ ở sân bắn dưới cái nóng như thiêu đốt của Thủ Đức. Tôi trở về trong lúc đất nước đang ở trong tình huống cực kỳ bi thảm. 27 tuổi, cái tuổi lo chưa tới, tôi trở về trường mẹ để phải ngậm ngùi, buồn thấm thía với câu nói của cổ nhân: “Lá rụng về cội”.


Khi nghe đọc lời tuyên bố buông súng chờ bàn giao trên đài phát thanh Sàigon, tôi hơi bàng hoàng sửng sốt mặc dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước.
Tôi mượn ông cậu của tôi bộ đồ dân sự tròng vô người, nó rộng thùng thà thùng thình trông chẳng ra làm sao cả, nhưng nhằm nhò gì ba cái chuyện lẻ tẻ. Tôi phóng Honda ra đường, chạy ngang qua trại Hoàng Hoa Thám, nơi tôi đã cùng 200 Sinh viên Võ Bị Đalạt về đây học nhảy dù, suốt 5 tuần lễ, sáng, trưa, chiều, tối lúc nào cũng vừa chạy vừa đếm nhịp :
Nhảy dù cố gắng
Cố gắng nhảy dù.
Qua Lăng Cha Cả với mấy chiếc tăng T54 cháy đen thui, chứng tích sự kháng cự của Nhảy dù. Dọc theo đường Công Lý, đây là con đường một chiều thế nhưng hàng ngàn chiếc Honda cái chạy xuôi, chiếc chạy ngược cứ loạn cả lên, mạnh ai nấy chạy. Hình như người ta chạy để mà chạy chứ chẳng biết chạy đi đâu. Hai bên lề đường giày bốt-đờ-sô, nón sắt, súng M16 cùng với những bộ quần áo rằn ri vứt lăn lóc, lòng tôi chợt quặn đau khi nhớ tới bộ đồ dù, trong đáy túi quân trang của tôi khi còn ở quân trường.
Đến trước Dinh Độc Lập tôi hơi rợn người, xe tăng của VC đã đậu khắp trong sân. Bên ngoài cũng tăng và lính cộng sản bố trí khắp công viên, kéo dài qua tòa Đại sứ Mỹ thẳng về phía sở thú, trùng trùng điệp điệp xe tăng và lính cộng sản.
Trên nóc Dinh Độc Lập cờ Quốc gia đã được thay bằng lá cờ 2 màu xanh đỏ của mặt trận giải phóng. Tôi cố nhìn một lần cuối cùng, muốn ghi lại trong trí nhớ của mình hình ảnh Dinh Độc Lập trong cảnh dầu sôi lửa bỏng. Trong lúc tất cả mọi chuyện hình như đã đặt dưới sự kiểm soát của VC, đột nhiên từ cánh phải bên trong Dinh Độc Lập nhiều loạt đạn M16 thi nhau nổ giòn giã, xé tan cái bầu không khí ngột ngạt, khó thở. Tiếng súng nghe như đầy căm phẩn, xen lẫn với đau thương uất hận, khiến tôi nghĩ đến hình ảnh con mãnh sư mang thương tích trầm trọng khắp mình, cất tiếng hú bi ai trước giờ tử biệt. Qua kẽ hở hàng rào dinh, tôi thấy lính cộng sản rối loạn hẳn lên, người ta chen lấn, đổ dồn về phía hàng rào. Tôi đoán ngay đó là những tiếng súng của Liên đoàn Phòng vệ Tổng Thống Phủ, tiếng súng của những người lính có nhiệm vụ bảo vệ Dinh Độc Lập.
Khoảng 5 phút sau từ cánh cửa nhỏ bên hông của dinh, một ông Thiếu úy Cảnh sát Dã chiến hai tay ôm vòng ra phía sau đầu bước ra, theo sau ông ta khoảng một trung đội cảnh sát dã chiến. Không tin vào đôi mắt của mình, Cảnh sát Dã chiến lại phòng thủ Dinh Độc Lập, chuyện khó tin nhưng những bộ đồ bông da báo, màu nâu đậm và vàng nhạt, thêm chiếc mũ nồi màu đen đã xác nhận họ là Cảnh sát Dã chiến.
Tất cả xếp hàng một dọc theo hàng rào, mặt quay vào tường, quỳ xuống, riêng viên thiếu úy thì không chịu quỳ, ông ta đang nói gì đó với đám lính cộng sản. Trong lúc bất ngờ một cán binh VC giáng nguyên cái báng súng AK vô đầu viên thiếu úy, thêm một cái đạp sau bắp chân. Tôi thấy ông ta qụy xuống đất, thân hình lảo đảo, ngả nghiêng nhưng vẫn cố gắng gượng lại, cuối cùng như một con báo vàng với vết thương đâm ngay tử huyệt, cả thân hình của viên thiếu úy đổ dài xuống đất. Ông ta nằm bất động, một giòng máu tươi chảy dọc theo mang tai nhuộm đỏ cái bông mai vàng nơi cầu vai áo.
Mắt của tôi cay. Môi của tôi mặn, bất lực đứng nhìn, thương cho viên thiếu úy Cảnh sát Dã chiến, thương cho mình, thương cho Việt Nam.

*

B
ất tuân thượng lệnh khi đối đầu với địch quân sẽ bị đưa ra tòa án quân sự mặt trận xét xử.
Viên thiếu úy Cảnh sát Dã chiến đứng trước hàng trăm chiếc tăng T54, PT76 với đại bác, đại liên, trước hàng ngàn lính cộng sản với đầy đủ AK và B40, ông ta cùng với trung đội của mình đã không chịu buông súng đầu hàng theo lệnh của cấp trên. Có nên đưa ông Thiếu úy và trung đội Cảnh sát Dã chiến của ông ta ra tòa án hay không ?
Câu trả lời xin nhường lại cho quý vị. Phần tôi, tôi chỉ thuật lại những gì tôi thấy.
Khi mà tôi biết được bộ đồ bông da báo của Cảnh sát Dã chiến cũng đẹp và oai hùng như bộ đồ rằn ri của nhảy dù thì mọi chuyện đã trễ rồi. Đồng hồ đeo tay của tôi chỉ 1 giờ kém 5 trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Dinh Độc Lập từ đây chỉ còn trong ký ức.